vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 20/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng Quang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Quang V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Hoàng Quang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đư…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng Quang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày: 20-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lệ Hoa

2. Ông Lê Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/HSST-QĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Hoàng Quang V - sinh ngày 27/3/1999. Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn T, huyện T , tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Nghề nghiệp: Sửa chữa ô tô; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phạm Thanh G, sinh năm 1966 và bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1968;

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại điều tra theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

* Người bị hại:

1. Đinh Thị Thuỳ L - sinh năm 1992 (đã chết)

2. Trần Trọng C , sinh ngày 30/5/2012 (có đơn xin vắng mặt)

* Đại diện hợp pháp cho người bị hại Đinh Thị Thùy Linh:

2.1 Ông Trần Văn T - sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: khu phố Kinh 10B, thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

2.2 Bà Phạm Thuý H - sinh năm 1967 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

* Đại diện hợp pháp cho người bị hại Trần Trọng C :

Ông Trần Văn T - sinh năm 1993.

Địa chỉ: khu phố Kinh 10B, thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Trọng C :

Bà Võ Thị Phương Thảo - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Kiên Giang (có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Kim P , sinh năm 1968 (có mặt)

Địa chỉ: khu phố Đ , thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 51 phút ngày 24/01/2023, sau khi đi chúc Tết và có uống bia nhà của bà Nội ở thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Phạm Hoàng Quang V (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE biển số 68T1-653.07 do V đứng tên chủ sở hữu chạy về nhà ở huyện T , khi đến đoạn KM 89 Quốc lộ 80 trước Trung tâm Hành chính huyện T thuộc khu phố Kinh 9, thị trấn T , huyện T thì cảm thấy khó thở, mất kiểm soát và điều khiển xe mô tô lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi 0,23 mét đụng vào xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 68T1-586.99 do bà Đinh Thị Thùy L, sinh năm 1992, trú tại ấp Đ , xã T , huyện T (L không có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển chở theo con trai là Trần Trọng C , sinh năm 2012 theo hướng Tân Hiệp đi Rạch Sỏi. Hậu quả, Đinh Thị Thùy L chết tại hiện trường, Phạm Hoàng Quang V và Trần Trọng C bị thương nặng, hai xe mô tô bị hư hỏng.

* Tại biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 24/01/2023 thể hiện: Đoạn đường xảy ra tai nạn là có mặt đường phẳng, rộng 8,9 mét, không bị che khuất, không dốc. Ở giữa tâm lộ có vạch kẻ đường chia Quốc lộ 80 thành hai phần bằng nhau. Nơi xảy ra vụ việc là khu vực đông dân cư, cách vùng xảy ra vụ việc khoảng 340 mét về hướng Kinh 9 có đặt biển báo hiệu R.421 (biển báo hết khu đông dân cư). Chọn hướng chuẩn tiến hành khám nghiệm từ Kinh 9 đi Kinh 10, lấy mép bên trái Quốc lộ 80 làm lề chuẩn, trụ điện 471TĐ/20 làm vật chuẩn. Xác định các dấu vết cày tại vị trí số 07, 08 là vùng va chạm nằm hoàn toàn trên phần đường bên trái theo hướng chuẩn:

+ Vị trí số 07 là dấu vết cày kích thước dài 0,05 mét, điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 4,12 mét, điểm cuối vết cày cách lề chuẩn 4,14 mét.

+ Vị trí số 08 là dấu vết cày có kích thước dài 0,11 mét, điểm đầu và điểm cuối vết cày cách lề chuẩn 4,05 mét.

+ Vị trí số 09 là vết cày có kích thước dài 3,38 mét, điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 4,1 mét, điểm cuối vết cày cách lề chuẩn 4,75 mét.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, trích xuất, thu giữ dữ liệu đoạn camera ghi hình giao thông trên Quốc lộ 80 trước Trung tâm Hành chính huyện T của Trung tâm giám sát điều hành Phòng Tham mưu Công an tỉnh Kiên Giang được lưu trong 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston màu xanh, dung lượng 4GB ghi lại toàn bộ quá trình xảy ra tai nạn giao thông gồm 01 (một) đoạn video định dạng mp4, có dung lượng 96,4MB; độ dài thời gian 03 phút.

Tại hồ sơ bệnh án số 23004538 của Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang ghi nhận kết quả xét nghiệm lúc 22 giờ 19 phút ngày 24/01/2023, nồng độ cồn trong máu của Phạm Hoàng Quang V là 1,27g/l máu, tương đương nồng độ cồn 127mg/100ml máu.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 80/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận giám định pháp y tử thi đối với Đinh Thị Thùy L:

“1. Các kết quả chính:

- Toàn thân nạn nhân có nhiều vết sây sát, rách da và bầm tụ máu rải rác.

- Hai lỗ tai, hai lỗ mũi và miệng chảy máu.

- Tụ máy dưới da và cơ mặt trước vùng cổ.

- Lòng khí quản có nhiều máu loãng.

- Gãy xương ức, 2 xương sườn bên phải và 01 xương sườn bên trái.

- Dập thùy giữa phổi phải.

- Tụ máu rải rác phổi trái.

- Bầm tụ máu mặt trước bao tim và cung động mạch chủ.

- Tụ máu tiểu nhĩ phải.

- Cơ tim xuất huyết rải rác.

2. Nguyên nhân chết: Ngạt do máu từ chấn thương sọ não tràn vào khí quản.”

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 154/ KLTTCT-PY ngày 09/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận đối với Trần Trọng C :

1. Các kết quả chính:

“- Kết quả khám giám định:

+ Mảng biến đổi sắc tố da vùng trán giữa và cánh mũi phải.

+ Vết thương vùng đùi trái, gãy 1/3 giữa xương đùi trái đã được phẫu thuật kết hợp xương, dẫn lưu. Hiện tại, còn hạn chế chức năng vận động khớp gối và ít dịch khớp gối.

+ Vết thương vùng cẳng chân trái, gây mẻ đầu trên xương chày trái.

- Kết quả cận lâm sàng:

+ Xquang gãy 1/3 giữa xương đùi trái, còn kết hợp xương.

+ Xquang gãy đầu trên xương chày trái, xương không di lệch trục.

+ Siêu âm ít dịch gối trái.

2. Kết luận:

2.1 Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Trọng C tại thời điểm giám định là: 43% (Bốn mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.”

Tại bản kết luận giám định số 93/KL-KTHS ngày 03/02/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận về đoạn video thu giữ:

“1. Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video gửi giám định.

2. Đã trích xuất được 12 (mười hai) tập tin hình ảnh trong nội dung video gửi đến giám định, chi tiết trong bản Phụ lục kèm theo.

3. Tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm tốc độ tính được của xe mô tô biển số 68T1-653.07 (chạy từ hướng phía trên xuống dưới theo hiển thị của màn hình) thời điểm 24-01-2023 15:51:16 (thời gian hiển thị trên khung hình) là nằm trong khoảng từ 72km/h – 76,35km/h.

4. Tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm tốc độ tính được của xe mô tô biển số 68T1-586.99 (chạy từ hướng phía dưới lên trên theo hiển thị của màn hình) thời điểm 24-01-2023 15:51:17 (thời gian hiển thị trên khung hình) là nằm trong khoảng từ 51,40km/h – 53,60km/h.”.

Tại Bản kết luận giám định số 89/KL-KTHS ngày 04/02/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận giám định nồng độ cồn trong máu của tử thi Đinh Thị Thùy L: “Dung dịch máu chứa trong ống nghiệm được niêm phong và bảo quản lạnh gửi giám định có chứa thành phần Ethanol (cồn) nồng độ: 115,2mg/100ml máu (Một trăm mười lăm phẩy hai miligam trên một trăm mililit máu)”.

Tại bản kết luận giám định số 745/KL-KTHS ngày 05/8/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

“- Tại thời điểm va chạm, vị trí bánh xe trước của xe mô tô biển số 68T1-653.07 (xe chạy từ hướng phía trên xuống phía dưới theo hiển thị của màn hình) thuộc phần đường bên trái theo hướng xe chạy và cách mép phải của vạch kẻ giữa đường về phía bên phải 0,23m.

- Tại thời điểm va chạm, vị trí bánh xe sau của xe mô tô biển số 68T1-586.99 (xe chạy từ hướng phía dưới lên phía trên theo hiển thị của màn hình) thuộc phần đường bên phải theo hướng xe chạy và cách mép phải của vạch kẻ giữa đường về phía bên phải 0,32m.”

Cáo trạng số 31/CT-VKSTH ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Phạm Hoàng Quang V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Hoàng Quang V. Sau khi phân tích đánh giá mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng Quang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng Quang V mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

* Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ, hướng xử lý vật chứng gồm:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE, màu sơn: đen, biển số 68T1-653.07 thuộc sở hữu của Phạm Hoàng Quang V. Đã trao trả lại cho chủ sở hữu.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại SIRIUS, màu sơn: đen, biển số 68T1-586.99; số máy: E32VE247369; số khung: 3720LY048163; tình trạng: Đã qua sử dụng, bị hỏng nhiều bộ phận do tai nạn. Thuộc sở hữu của bà Phạm Thúy H, vào ngày 24/01/2023, bà Hằng đi chúc Tết để xe và chìa khóa ở nhà. L và con trai đến chơi sau đó tự ý lấy xe điều khiển về nhà ở Kinh 10 thì bị tai nạn. Xe đã trao trả lại cho chủ sở hữu.

- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 371447980 tên Đinh Thị Thùy L (bản sao y); 01 (một) sổ hộ khẩu số 340235270 (bản sao y); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 049535 tên chủ xe Phạm Thúy H, 1967 (bản sao y); 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện tên Phạm Thúy H (bản sao y); 01 (một) thẻ căn cước công dân số 370544995 tên Phạm Thúy H (bản sao y); đã được đưa vào hồ sơ vụ án.

- 01 (một) đơn xin bãi nại ngày 31/3/2023 (Bản gốc có xác nhận của Công an thị trấn T ); 01 (một) giấy nhận tiền bồi thường ngày 31/3/2023 (Bản gốc có chứng thực của UBND thị trấn T ); đã được đưa vào hồ sơ vụ án.

- 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston màu xanh, dung lượng 4GB; bên trong có đoạn video Mp4, dung lượng 96,4MB; độ dài thời gian 03 phút; được niêm phong trong phong bì chuyển giao kèm hồ sơ vụ án.

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô có số 68007997 tên chủ xe Phạm Hoàng Quang V đăng ký biển số 68T1-653.07 (bản gốc); 01 (một) giấy phép lái xe số 750182009219 mang tên Phạm Hoàng Quang V, (bản gốc); đã trao trả lại cho chủ sở hữu.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bà Trần Thị Kim P là mẹ của bị cáo Phạm Hoàng Quang V đã bồi thường các chi phí, tổn thất cho gia đình bị hại và chi phí điều trị thương tích cho Trần Trọng C . Ông Trần Văn T là đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận số tiền bồi thường 205.000.000 đồng (Hai trăm lẻ năm triệu đồng), không có yêu cầu bồi thường gì khác và xin bãi nại cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại Trần Trọng C anh Trần Văn T yêu cầu bị cáo hỗ trợ thêm số tiền 10.000.000 đồng vì cháu C phải đi mổ lấy Inox, bị cáo Phạm Hoàng Quang V đồng ý bồi thường thêm số tiền trên.

* Bà Võ Thị Phương Thảo - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị hại Trần Trọng C : Thống nhất với bản cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phạm Hoàng Quang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, và thống nhất với tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã áp dụng cho bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không tiền án tiền sự, bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa bị cáo, gia đình bị cáo và gia đình bị hại về việc hỗ trợ thêm 10.000.000 đồng cho cháu Trần Trọng C ; đề nghị xử phạt bị cáo trong mức án đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y tử thi. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 15 giờ 51 phút ngày 24/01/2023, bị cáo Phạm Hoàng Quang V (có giấy phép lái xe hạng A1), sau khi đã uống bia (nồng độ cồn 127mg/100ml máu, vi phạm khoản 8 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu bia) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE biển số 68T1-653.07 đi trên Quốc lộ 80 theo hướng Rạch Sỏi – Tân Hiệp với tốc độ 72km/h trên đoạn đường giới hạn tốc độ 50km/h trong khu vực đông dân cư đối với xe mô tô (vi phạm khoản 11 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ), khi đến đoạn Km 89 Quốc lộ 80, thuộc khu phố Kinh 9, thị trấn T , huyện T , bị cáo điều khiển xe mô tô lấn sang phần đường bên trái của hướng đi 0,23 mét (vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ) va chạm vào xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius biển số 68T1-586.99 do bà Đinh Thị Thùy L (không có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển chở con trai là Trần Trọng C, sinh năm 2012 chạy theo hướng ngược lại. Hậu quả vụ tai nạn làm cho bà Đinh Thị Thùy L chết tại hiện trường bởi ngạt do máu từ chấn thương sọ não tràn vào khí quản, Trần Trọng C bị thương tích qua giám định xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Trọng C là: 43% (Bốn mươi ba phần trăm).

Hành vi của bị cáo Phạm Hoàng Quang V đã vi phạm vào quy tắc giao thông đường bộ được quy định tại khoản 11 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Nguyên nhân chính xảy ra tai nạn là do lỗi của bị cáo Phạm Hoàng Quang V. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng con người và tài sản, gây đau thương mất mát không có gì có thể bù đắp được cho gia đình bị hại, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân và người tham gia giao thông. Mặc dù tai nạn xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, do bị cáo điều khiển xe mà trong máu có nồng độ cồn 127mg/100ml máu, chạy quá tốc độ quy định 72km/50km/h và lấn sang phần đường bên trái của hướng đi dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông va chạm vào xe của bị hại Đinh Thị Thuỳ L chở theo Trần Trọng C , xét yếu tố lỗi bị hại Đinh Thị Thuỳ L cũng có lỗi do điều khiển xe mà trong máu có nồng độ cồn 115,2mg/100ml máu và không có giấy phép lái xe hạng A1. Hậu quả làm Đinh Thị Thuỳ L chết bởi ngạt do máu từ chấn thương sọ não tràn vào khí quản, Trần Trọng C bị thương tích qua giám định tổn thương cơ thể là 43%.

Về tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã cùng gia đình bồi thường các chi phí tổn thất cho gia đình bị hại và chi phí điều trị thương tích cho Trần Trọng C với số tiền 205.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm và có đơn xin bãi nại cho bị cáo; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự chuyển khung hình phạt xử phạt bị cáo trong mức án đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị Kim P là mẹ của bị cáo Phạm Hoàng Quang V đã bồi thường các chi phí, tổn thất cho gia đình bị hại và chi phí điều trị thương tích cho Trần Trọng C . Ông Trần Văn T là đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường 205.000.000 đồng (Hai trăm lẻ năm triệu đồng), không có yêu cầu bồi thường gì khác và xin bãi nại cho bị cáo; nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Phạm Hoàng Quang V và đại diện hợp pháp cho bị hại Trần Trọng C là anh Trần Văn T về việc bị cáo Phạm Hoàng Quang V sẽ hỗ trợ bồi thường thêm cho cháu Trần Trọng C số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE, màu sơn: đen, biển số 68T1-653.07 thuộc sở hữu của bị cáo Phạm Hoàng Quang V và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô có số 68007997 tên chủ xe Phạm Hoàng Quang V đăng ký biển số 68T1-653.07 (bản gốc); 01 (một) giấy phép lái xe số 750182009219 mang tên Phạm Hoàng Quang V, (bản gốc); đã trả lại cho chủ sở hữu; là phù hợp.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại SIRIUS, màu sơn: đen, biển số 68T1-586.99; số máy: E32VE247369; số khung: 3720LY048163; tình trạng: Đã qua sử dụng, bị hỏng nhiều bộ phận do tai nạn, thuộc sở hữu của bà Phạm Thúy H, vào ngày 24/01/2023, bà Hằng đi chúc Tết để xe và chìa khóa ở nhà. L và con trai đến chơi sau đó tự ý lấy xe điều khiển về nhà ở Kinh 10 thì bị tai nạn; xe đã trả lại cho chủ sở hữu; là phù hợp.

Đối với 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 371447980 tên Đinh Thị Thùy L (bản sao y); 01 (một) sổ hộ khẩu số 340235270 (bản sao y); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 049535 tên chủ xe Phạm Thúy H, 1967 (bản sao y); 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện tên Phạm Thúy H (bản sao y); 01 (một) thẻ căn cước công dân số 370544995 tên Phạm Thúy H (bản sao y); 01 (một) đơn xin bãi nại ngày 31/3/2023 (Bản gốc có xác nhận của Công an thị trấn T ); 01 (một) giấy nhận tiền bồi thường ngày 31/3/2023 (Bản gốc có chứng thực của UBND thị trấn T ); đã được đưa vào hồ sơ vụ án; và 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston màu xanh, dung lượng 4GB; bên trong có đoạn video Mp4, dung lượng 96,4MB; độ dài thời gian 03 phút; được niêm phong trong phong bì chuyển giao kèm hồ sơ vụ án; là phù hợp.

Đối với Đinh Thị Thùy L là người điều khiển xe mô tô nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển phương tiện mà trong máu có nồng độ cồn nhưng đã chết trong vụ tai nạn nên không đề nghị xử lý vi phạm hành chính.

Đối với bà Phạm Thúy H là chủ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius biển số 68T1-586.99, biết Đinh Thị Thùy L không có giấy phép lái xe nhưng bà H không có hành vi giao xe cho L điều khiển nên không xem xét xử lý; là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng Quang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Quang V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Phạm Hoàng Quang V và đại diện hợp pháp cho bị hại Trần Trọng C là anh Trần Văn T về việc bị cáo Phạm Hoàng Quang V sẽ hỗ trợ bồi thường thêm cho cháu Trần Trọng C số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Hoàng Quang V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ