vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 21/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Phúc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Bùi Phúc T 01 (một ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Phúc Tịnh - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Phúc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN TỊNH
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày 21 - 02 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Hoàng Văn Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Luyến - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 13/2024/HSST-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Phúc T, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2000 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn P, xã I, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M và bà Nguyễn Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đào Duy A, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn C, xã G, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1965 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn E, xã H, huyện U, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/9/2023, sau khi ăn uống tại quán nhậu có tên “Sinh tố Bia”, Bùi Phúc ông T điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, biển số 76B1 - 492.88 đi đến Cổng chào thôn L, xã I, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi tìm người bán ma túy đá để mua sử dụng (Bùi Phúc T nghe bạn bè ngoài xã hội nói có người bán ma túy ở đây). Khi đến Cổng chào thôn L, Bùi Phúc T nhìn thấy có một người đàn ông đang ngồi trên xe mô tô, loại xe Sirius, màu đỏ (không rõ biển số) T hỏi người đàn ông này là “có chơi dư thì chia sẻ lại ít cho sử dụng với anh trai”, người đàn ông này trả lời “ok chú”. T lấy 700.000 đồng đưa cho người đàn ông này. Sau khi lấy tiền, người đàn ông dùng tay chỉ xuống đất ngay vị trí đang đứng có một túi ni lông trong suốt, rồi điều khiển xe bỏ đi. T đi đến vị trí túi ni lông cầm lên một túi ni lông trong suốt, có mép khớp màu trắng, bên trong có chứa ba túi ni lông trong suốt, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất rắn màu trắng. T điều khiển xe mô tô biển số 76B1- 492.88 và cầm túi ni lông bên trong có chứa chất rắn màu trắng đi trên tuyến đường số 6A Khu công nghiệp VSIP Quảng Ngãi. Khi đến đoạn trước quán nhậu tên “NGỘ” thuộc địa phận thôn L, xã I, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi thì bị Công an xã I phát hiện có dấu hiện nghi vấn. Qua làm việc, T tự nguyện giao nộp cho Công an xã I: 01 (một) túi ni lông trong suốt, có mép khớp viền màu trắng, bên trong có chứa 03 (ba) túi ni lông trong suốt, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn màu trắng, T khai chất rắn màu trắng chứa trong 03 (ba) túi ni lông này là ma túy đá.

Công an xã I lập biên bản làm việc với Bùi Phúc T và tạm giữ: 01 (một) túi ni lông trong suốt, có mép khớp viền màu trắng, bên trong có chứa 03 (ba) túi ni lông trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn màu trắng (đã được niêm phong theo quy định); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 76B1 - 492.88.

Tại Kết luận giám định số 928/KL-KTHS ngày 24/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong 03 (ba) túi ni lông trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong Phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu: 0,7 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Cáo trạng số: 01/CT - VKSST ngày 05/12/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi truy tố Bùi Phúc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Phúc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt Bùi Phúc T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Tịnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Duy A, bà Nguyễn Thị C vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Phúc T đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ được, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/9/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo đã mua ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi mua được ma túy, bị cáo điều khiển xe mô tô đi mua dụng cụ để sử dụng ma túy thì bị phát hiện và bắt giữ. Qua giám định là loại ma túy Methamphetamine, có khối lượng: 0,7 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Với hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Bùi Phúc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết tác hại của chất ma túy đối với cộng đồng, xã hội nhưng để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy từ một người không rõ nhân thân, lai lịch cất giấu để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước và là nguyên nhân để gây ra nhiều tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào tối ngày 21/9/2023, bị cáo không biết về nhân thân, lai lịch, đặc điểm của người đàn ông này, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ thông tin để tiến hành xác minh, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma túy 0,5 gam còn lại sau giám định bên trong một phong bì số 928/KTHS(GĐ-2023), bên ngoài có chữ ký của người tham gia đóng gói niêm phong và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi. Đây là ma túy bị cáo tàng trữ trái phép nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius màu trắng đỏ đen, số khung: RLCS5C640CY769369, số máy: 5C64769372, biển kiểm soát 76B1 - 492.88. Qua tra cứu xe mô tô Yamaha Sirius, màu trắng - đỏ - đen, số khung: RLCS5C640CY769369, số máy: 5C64769372, có biển kiểm soát: 76D1 - 094.64 là của anh Đ. Ngày 21/9/2023, Đ cho Bùi Phúc T mượn xe để đi lại. Quá trình Tịnh sử dụng xe đi lại thì biển số 76D1 - 094.64 bị rớt, nên T lấy biển số 76B1-492.88 gắn vào xe của Tuấn (biển số 76B1-492.88 do T nhặt được từ trước) và tiếp tục sử dụng để đi lại. Cơ quan điều tra xác định Đ không biết việc Bùi Phúc T sử dụng xe vào mục đích mua ma túy nên không đồng phạm với Bùi Phúc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu trắng - đỏ - đen, số khung: RLCS5C640CY769369; số máy: 5C64769372 cho Đ là đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, qua tra cứu biển số kiểm soát 76B1- 492.88 là của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đỏ - đen do bà Nguyễn Thị C là chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định: Trong quá trình bà Nguyễn Thị C sử dụng xe mô tô trên thì biển số 76B1-492.88 bị rớt và biển số kiểm soát 76B1-492.88 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại biển số kiểm soát 76B1-492.88 cho G.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận, tuy nhiên mức hình phạt theo đề nghị của kiểm sát viên là hơi có phần nghiêm khắc.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Phúc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Bùi Phúc T 01 (một ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 0,5 gam loại ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định bên trong một phong bì số 928/KTHS(GĐ-2023), bên ngoài có chữ ký của người tham gia đóng gói niêm phong và hình dấu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày lập ngày 08/12/2023 giữa Công an huyện Sơn Tịnh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh).

3. Về án phí: Bị cáo Bùi Phúc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ