- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Hoảng Minh P "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Hoàng Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HS-ST Ngày: 02-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Đồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Thanh Hải;
2. Ông Nguyễn Tấn Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 02/02/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Lý Hoàng Minh P, sinh năm 1999; tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: Khu phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Hoàng H, sinh năm 1970 và con bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1972; có vợ tên Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1993; có con tên Lý Thiện P, sinh năm 2020; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/9/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Hoàng Minh P là đối tượng nghiện ma túy từ giữa năm 2017. Thông qua các mối quan hệ xã hội, P biết tại khu vực Công viên C thuộc phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương có bán ma túy nên vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 27/9/2023, P đi đến khu vực Công viên C thuộc phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương để gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy đá đựng trong ống hút với giá 500.000 đồng. Sau đó P đi về nhà cất số ma túy trên trong tủ quần áo trong phòng ngủ. Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 28/9/2023, P lấy một ít ma túy trong ống hút ra sử dụng. Số còn lại P cất số ma túy trên trong tủ quần áo trong phòng ngủ.
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 29/9/2023, P tiếp tục lấy một ít ma túy trong ống hút ra sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, P cất số ma túy còn lại bên trong túi quần phía trước, bên trái của mình. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, Công an thị trấn D, huyện D bắt quả tang P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại căn nhà số S, đường T, khu phố B, thị trấn D, huyện D và thu giữ tang vật gồm 01 đoạn ống hút trong suốt, được hàn kín 02 đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng, chưa xác định trọng lượng, được niêm phong trong bì thư dán kín có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H, ông Tô Văn Q – Trưởng Công an thị trấn D, người chứng kiến Lý Hoàng Minh P và mộc dấu đỏ của Công an thị trấn D, huyện D.
Tại bản kết luận giám định số 555/KL-KTHS(MT) ngày 04/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng/trọng lượng là: 0,1430 gam.
Đối với đối tượng bán ma túy cho P, quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 555/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H, ông Tô Văn Q – trưởng Công an thị trấn D, người chứng kiến Lý Hoàng Minh P và mộc dấu đỏ của Công an thị trấn D; giấy niêm phong có chữ ký của Lý Hoàng Minh P (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (cán bộ trả mẫu), Đặng Hải S (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương. Khối lượng sau giám định M=0,0914 gam. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và 01 (một) bộ sử dụng trái phép chất ma túy (đã qua sử dụng) đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Tại Cáo trạng số 03/CTr-VKSDT ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lý Hoàng Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị:
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử bị cáo Lý Hoàng Minh P từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2023.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 (một) bộ sử dụng trái phép chất ma túy (đã qua sử dụng) và 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 555/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H, ông Tô Văn Q – trưởng Công an thị trấn D, người chứng kiến Lý Hoàng Minh P và mộc dấu đỏ của Công an thị trấn D; giấy niêm phong có chữ ký của Lý Hoàng Minh P (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (cán bộ trả mẫu), Đặng Hải S (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương. Khối lượng sau giám định M=0,0914 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện cải tạo làm người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Ngoài ra, bị cáo P không có ý kiến tranh luận gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Dầu Tiếng và Điều tra viên, cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo P thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 29/9/2023, tại căn nhà số S, đường T, khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, bị cáo P có hành vi tàng trữ trái phép 0,1430 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng theo Kết luận giám định số 555/KL-KTHS(MT) ngày 04/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương. Lời khai nhận tội của bị cáo P tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo P được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố theo Cáo trạng số 03/CTr-VKSDT ngày 08/01/2024 về tội “Tàng trữ tái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo P là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đã làm cho nhiều người phải nghiện thứ chất độc hại mà Nhà nước cấm tàng trữ sử dụng, là một trong những con đường dẫn đến nhiều căn bệnh xã hội và kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi tội phạm xảy ra.
Bị cáo P là người nghiện ma túy, là người hiểu rõ nhất về tác hại của chất ma túy, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua ma túy về tàng trữ trong người để sử dụng. Bị cáo P là người có đầy đủ năng lực để nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật thế nhưng bị cáo đã bất chấp hậu quả, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Xét hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo P gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện D cũng như của cả nước nói chung; đồng thời để bị cáo P thấy được sự nghiêm minh của pháp luật nên cần phải xử lý thật nghiêm bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm có điều kiện giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt sau này cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, đã thu giữ vật chứng và cần xử lý như sau: Tịch thu tiêu hủy đối khối lượng chất ma túy sau giám định M=0,0914 gam được đựng trong 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 555/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H, ông Tô Văn Q – trưởng Công an thị trấn D, người chứng kiến Lý Hoàng Minh P và mộc dấu đỏ của Công an thị trấn D; giấy niêm phong có chữ ký của Lý Hoàng Minh P (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (cán bộ trả mẫu), Đặng Hải S (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương và 01 (một) bộ sử dụng trái phép chất ma túy (đã qua sử dụng).
Bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố bị cáo Lý Hoàng Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
I. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lý Hoàng Minh P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang, ngày 29/9/2023.
II. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy đối khối lượng chất ma túy sau giám định M=0,0914 gam được đựng trong 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 555/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thái Hòa, ông Tô Văn Q – trưởng Công an thị trấn D, người chứng kiến Lý Hoàng Minh P và mộc dấu đỏ của Công an thị trấn D; giấy niêm phong có chữ ký của Lý Hoàng Minh P (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (cán bộ trả mẫu), Đặng Hải S (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương và 01 (một) bộ sử dụng trái phép chất ma túy (đã qua sử dụng).
(Vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2024 và ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương).
III. Án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Lý Hoàng Minh P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
IV. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 02/02/2024)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Phòng PV06 - CA tỉnh Bình Dương; - Cơ quan CSĐT - CA H. Dầu Tiếng; - Cơ quan THAHS&HTTT - CA H. Dầu Tiếng; - CC THA DS H. Dầu Tiếng; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Đồng |