vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 ( Một) năm cải tạo không giam giữ về tội “ Đánh bạc”. Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vân A1 01 ( Một) năm cải tạo không giam giữ về tội “ Đánh bạc”. Giao bị cáo Nguyễn Vân A1 cho UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính t ngày UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An được giao giám sát, giáo dục, người bị kết án nh n đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Tú và đồng phạm phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 ( Một) năm cải tạo không giam giữ về tội “ Đánh bạc”. Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /2024/HS-ST
Ngày 26/3/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Doãn Xuân; Ông La Văn Liệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa

- Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:11/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:09 /2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị T - Sinh ngày 25 tháng 9 năm 1992, tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T1; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H; Anh em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Chồng: Nguyễn Tú A; Con: có 03 người. Con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Vân A1 - Sinh ngày 11 tháng 5 năm 1989, tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Xóm C xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn H1; Họ và tên mẹ: Dương Thị Kim N; Anh em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình;Chồng: Nguyễn Công V; Con: có 02 người. Con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Đoàn Duy T2- Sinh ngày 12 tháng 4 năm 1988, tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Cán bộ điện lực; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Đảng viên (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng); Họ và tên cha: Đoàn Duy P; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M; Anh em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình;Vợ: Vũ Thị Hoài T3; Con: có 03 người. Con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2023;Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Đức T4 - Sinh ngày 26 tháng 8 năm 1964, tại huyện A, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Họ và tên cha: Nguyễn Đức T5 (Đã chết);Họ và tên mẹ: Đặng Thị T6;Anh em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình;Vợ: Bùi Thị L; Con: Có 06 người. Con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 22/01/2024 bị công an huyện C, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” theo quyết định số 71/QĐ-XLHC. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Nguyễn Vân A1 thường uyên nói chuyện với nhau qua điện thoại và mạng ã hội như facebook, a o, te egram. Quá trình nói chuyện với nhau, T và Vân A1 có đề c p tới chuyện người chơi ô đề thường thua, người ôm đề thắng tiền t người chơi, thấy có lời nên T và Vân A1 rủ nhau bán số ô, đề, đầu, xiên. T và Vân A1 thỏa thu n với nhau T à người trực tiếp bán cho người mua ở địa bàn huyện C rồi d ng tài khoản trên mạng ã hội Te egram t tài khoản của T tên “Ba Loc” chuyển đến tài khoản của Vân A1 có tên “ bc” và nh n hoa hồng t chênh ệch giá và thống nhất khi chuyển, giá m i điểm ô à 22.000 đồng, còn T bán cho người mua à 23.000 đồng (hưởng hoa hồng 1.000 đồng/điểm ; đề và các oại số khác khi chuyển tính giá trị à 80 tiền bán cho người mua (T hưởng hoa hồng 20 . Sau m i ngày, T và Vân A1 s tính toán tiền thắng thua để b tr cho nhau và trả ại cho người mua.

Trước 18 giờ 15 phút hàng ngày bị cáo Nguyễn Thị T sử dụng điện thoại Iphone 6s màu hồng, gắn sim số 0972048594 và điện thoại Iphone XS Ma màu vàng go d gắn sim số 0867870668 để nh n các tin nhắn mua số ô, số đề, đầu, iên b ng cách nhắn tin trên mạng ã hội facebook, a o hoặc SMS t những người đánh bạc. Nếu đồng ý Nguyễn Thị T s trả lời b ng các tin nhắn ký hiệu “ok”; Ngoài ra, có một số đối tượng đến nhà T để ghi các số lô, số đề, T sử dụng các mảnh giấy được xé ra t tờ lịch tường hay vở kẻ ngang để ghi số ô và đề cho người mua. Sau đó, các đối tượng căn cứ vào kết quả sổ xố Miền B được mở thưởng vào 18 giờ 15 phút hàng ngày để tính kết quả thắng thua. Nếu trong ngày người mua nào trúng ( ô, đề, đầu, xiên hai, xiên ba) thì Nguyễn Thị T s trả tiền thắng cho người đó, còn nếu người mua không trúng thì Nguyễn Thị T s được hưởng toàn bộ số tiền mà những người mua bỏ ra.

Đánh “đề” à cách đánh theo hai chữ số cuối cùng của giải đặc biệt, người mua nào ghi (đánh số tự nhiên trùng với hai chữ số cuối cùng của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền B quay thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày thì mới được hưởng và được hưởng gấp 70 lần số tiền ghi số đề đó (1 70 .

Đánh “ ô” à cách đánh theo hai chữ số sau cùng của tất cả các giải thưởng, người đánh ô s đánh theo “ điểm” m i điểm có giá do người chơi thỏa thu n với nhau. Nếu người mua nào đánh các số tự nhiên trùng với hai chữ số cuối cùng của bất kỳ một trong các giải thưởng của xổ số kiến thiết miền B mở thưởng vào 18 giờ 15 phút hàng ngày thì mới được hưởng và được hưởng m i “ điểm” đánh à 80.000 đồng, nếu trùng hai lần trở lên thì m i điểm thắng 160.000 đồng; nếu trùng ba lần trở lên thì m i điểm thắng 240.000 đồng. Đánh “đầu” à cách đánh một chữ số tự nhiên, nếu số đầu tr ng với chữ số thứ 2 tính t chữ số cuối của giải đặc biệt thì thắng 7 ần số tiền đã mua.

Đánh “Xiên 2” à cách đánh 2 bộ số, m i bộ gồm 02 chữ số tự nhiên; nếu cả hai bộ số trong đó đều à các số ô thắng theo quy tắc trên thì thắng 10 ần số tiền đã mua.

Đánh “Xiên 3” à cách đánh 3 bộ số, m i bộ gồm 02 chữ số tự nhiên; nếu cả hai bộ số trong đó đều à các số ô thắng theo quy tắc trên thì thắng 30 ần số tiền đã mua.

Ngày 19/01/2024, bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện việc bán các số lô, số đề cho người mua để chuyển cho Vân A1 b ng hình thức bán trực tiếp tại nhà khi người mua đến hoặc thông qua nhắn tin trên mạng ã hội facebook, a o hoặc SMS; cụ thể như sau:

* Từ điện thoại phone 6s màu hồng, gắn sim s 09720 9 , nhận các tin nhắn:

- Vào úc 17 giờ 25 phút, Lô Văn T7, sinh năm 1967, trú tại thôn B, xã C, huyện C, sử dụng số điện thoại 0369974237 nhắn đến với nội dung mua các số ô: 98 10 điểm; 88, 89 5 điểm; số đầu: đầu 8 100.000 đồng; các số đề 87, 88, 89, 65 10.000 đồng. T đồng ý và trả ời b ng tin nhắn “Ok”, tổng số tiền T bán các số ô, đề này cho T7 à 600.000 đồng, T7 chưa thanh toán tiền cho T.

- Vào úc 17 giờ 17 phút, Đoàn Duy T2 sử dụng số điện thoại 0945766386 nhắn đến với nội dung mua các số ô: 72 30 điểm; 28 50 điểm; 18, 70 30 điểm/số; các số đề 64, 66 30.000 đồng/số; các số đề 72, 43, 28, 18, 08, 65 50.000 đồng/số. T đồng ý và nhắn tin trả ời “Ok”. Đến 17 giờ 24 phút c ng ngày, T2 tiếp tục nhắn tin mua các số ô: 76 100 điểm, 67 50 điểm, 09 30 điểm, 90 20 điểm. T đồng ý và nhắn tin trả ời “Ok”. Tổng số tiền T bán các số ô, đề này cho T2 à: 8.180.000 đồng. Đoàn Duy T2 đã thanh toán vào tài khoản ngân hàng A4 số 3616205160520 của T số tiền 9.100.000 đồng (th a 920.000 đồng) do T2 tính toán nhầm số tiền cần trả; số tiền th a này T đã trả lại cho T2 vào ngày 21/01/2024.

Từ điện thoại phone Ma màu vàng go d gắn sim s 0 67 7066 nhận các tin nhắn:

- Lúc 12 giờ 02 phút, Vi Văn Đ, sinh năm 1980, trú tại bản Cai, xã C, huyện C sử dụng tài khoản a o “Vi Đức” nhắn tin đến tài khoản a o của T tên “tú anh” mua số ô 44 5 điểm, các số đề 84, 75 10.000 đồng với tổng số tiền 135.000 đồng, T đồng ý và nhắn tin trả lời “Ok”. Chiều cùng ngày Đ đi qua nhà T và vào thanh toán số tiền tiền mặt 130.000 đồng (thiếu 5.000 đồng).

- Lúc 16 giờ 12 phút, Lương Văn M1, sinh năm 1991, trú tại bản C, xã C, huyện C sử dụng tài khoản a o số điện thoại 0866858436 nhắn tin qua a o của T mua các số ô 85, 04, 33, 98 10 điểm/số. T đồng ý và trả ời “ok”. Tổng số tiền T bán các số ô trên à 920.000 đồng, M1 chưa thanh toán số tiền trên.

- Lúc 16 giờ 51 phút, Lê Đức A2, sinh năm 1980, trú tại bản C, xã C, huyện C d ng tài khoản a o số điện thoại 0909749843 nhắn tin đến tài khoản a o của T mua các số ô 54, 45, 84, 32 5 điểm/số. T đồng ý và trả ời “Ok”. Tổng số tiền mua bán các số ô trên à 460.000 đồng, Lê Đức A2 chưa thanh toán số tiền trên.

- Lúc 16 giờ 54 phút, Đ Thế N1, sinh năm 1978, trú tại thôn K, xã C, huyện C nhắn tin t tài khoản Facebook “Đ Nhân” đến tài khoản Facebook “Nguyễn T” của T mua các số ô 73, 74 5 điểm/số, tổng số tiền 230.000 đồng, N1 đã thanh toán cho T qua tài khoản ngân hàng M3 số 0867870668 của T.

Trong hoảng 17 giờ đến 17 giờ 0 ph t c ng ngày 19 01 202 , T đ bán trực tiếp s , s đề cho nh ng người sau

- Nguyễn Quang T8 - sinh năm 1970, trú tại thôn K, xã C, huyện C đến nhà T mua trực tiếp các số ô 88, 89, 98 5 điểm/số với tổng số tiền 345.000 đồng và đưa tiền mặt cho T. T d ng số điện thoại 0972048594 nhắn tin đến số điện thoại 0976727900 của Tuất ghi nh n các số trên.

- Nguyễn Hùng N2 - sinh năm 1999, trú tại bản Khe Bu, xã C, huyện C, Nghệ An đến mua trực tiếp với T các số ô 34, 98, 99, 84, 70 30 điểm/số với tổng số tiền 3.450.000 đồng và trả tiền mặt cho T. T dùng số điện thoại 0867870668 nhắn đến số 1221 (một kênh của tổng đài V1 để ghi nh n các số trên.

- Bị cáo Nguyễn Đức T4 đến mua trực tiếp với T các số ô 69, 79 10 điểm/số với tổng số tiền 460.000 đồng và trả tiền mặt cho T. T dùng số điện thoại 0867870668 nhắn đến số 1221 (một kênh của tổng đài V1 để ghi nh n các số trên. Một lúc sau, T4 tiếp tục đến mua trực tiếp với T các số ô 98, 99 5 điểm/số; iên 2 (82, 98 30.000đồng; iên 3 (98, 89, 82 , (99, 98, 68 20.000đồng/ iên; các số đề 99 10.000 đồng, 19, 91 5.000 đồng/số với tổng số tiền 320.000 đồng và trả tiền mặt cho T rồi đã ghi ại vào 01 tờ giấy t tờ ịch tường để ại.

- Lô Văn H2, sinh năm 1968, trú tại bản Liên Hồng, xã C, huyện C đến mua các số ô 45, 75, 54 30 điểm/số, với tổng số tiền 2.070.000 đồng và trả tiền mặt cho T.

- Lô Văn M2, sinh năm 1991, trú tại bản Cai, xã C, C đến nhà T mua các số ô 83 50 điểm, 74 25 điểm, iên 2 (83, 91 50.000 đồng, tổng số tiền T bán các số trên à 1.775.000 đồng. T nh n tiền mặt trực tiếp và nhắn tin đến số điện thoại 0343799175 của Màu để ghi nh n các số đã bán.

- Lộc Xuân T9, sinh năm 1958, trú tại bản B, xã C, C mua các số ô 38, 46 5 điểm/số, iên 3 (38, 46, 42 30.000 đồng, tổng số tiền mua à 260.000 đồng và trả tiền mặt cho T, T đã ghi ại vào 01 tờ giấy t tờ ịch tường để ưu ại. Sau đó T9 quay ại mua thêm số đầu 0 50.000 đồng, các số đề 90, 91, 06 10.000 đồng/số, iên 2 (04, 66 30.000 đồng, tổng số tiền mua thêm 110.000 đồngvà đã trả đủ cho T, nhưng T không ghi vào giấy.

Ngoài ra, Nguyễn Thị T còn tự mình đánh (mua với Nguyễn Vân A1 các số đề, đầu gồm: số ô 43 40 điểm, các số 05, 50, 72 5 điểm/số, số 00 10 điểm; số đầu 5 50.000 đồng, các số đề 54, 99, 64 10.000 đồng/số, số đề 66 10.000 đồng, số đề 30 20.000 đồng, số đề 19, 91 5.000 đồng/ số, các số đề 66, 77, 99 20.000 đồng/số. Tổng số tiền T tự đánh (mua à 65 điểm ô 22.000 đồng/điểm 180.000 đồng đề, đầu 80

1.574.000 đồng.

Sau khi bán những số ô, số đề, đầu và xiên với người chơi, T sử dụng tài khoản ứng dụng Te egram tên “Ba L1” nhắn tin đến tài khoản của Vân A1 có tên “ bc” để chuyển các số lô, số đề, iên người chơi mua và các số lô, số đề, đầu mà T tự mình đánh với Vân A1. Cụ thể, T đã gửi cho Vân A1 các tin nhắn có nội dung ghi các số lô, số đề như sau:

- Vào úc 17 giờ 19 phút: Các số ô 43 40 điểm, 72 30 điểm, 28 50 điểm; 18, 70 30 điểm; các số đề 64, 66 30.000 đồng/số; 72, 43, 28, 18, 08, 65 50.000đồng/số;

- Lúc 17 giờ 23 phút: Các số ô 83 50 điểm, 74 25 điểm; 85, 04, 33, 98 10 điểm/số; 89, 98, 88, 44, 45, 54, 32, 05, 50, 72, 73, 74 5 điểm/số, 00 10 điểm; số đầu 7 10.000 đồng, các số đề 54, 99, 64 10.000 đồng/số; 75 10.000 đồng, xiên 2 (83, 91 50.000 đồng.

- Lúc 17 giờ 25 phút: Các số ô 98 10 điểm; 88, 89 5 điểm/số, số đầu 8 100.000 đồng, các số đề 87, 88, 89, 65 10.000 đ/số.

- Lúc 17 giờ 25 phút: Các số ô 76 100 điểm, 67 50 điểm, 09 30 điểm, 90 20 điểm.

Vân A1 sau khi đọc 04 tin nhắn trên thì đồng ý nh n tất cả các số đã nhắn ở trên và trả ời b ng tin nhắn “4”.

- Lúc 17 giờ 34 phút: Các số ô 34, 98, 99, 84, 70 30 điểm/số, 69, 79 10 điểm/số.

- Lúc 17 giờ 36 phút: Các số ô 38, 46 5 điểm/số; iên 3 (38, 46, 42

30.000đồng; đầu 0 50.000 đồng; các số đề 90, 91, 06 10.000 đồng/số; iên 2 (04, 66 30.000 đồng.

- Lúc 17 giờ 37 phút: số đề 66 10.000 đồng.

- Lúc 17 giờ 42 phút: các số ô 45, 75, 54 30 điểm/số; các số đề 66, 77, 99, 30 20.000 đồng/số.

- Lúc 17 giờ 43 phút: các số ô 98, 99 5 điểm/số; các số đề 99, 19, 91 10.000 đồng/số; iên 2 (82, 98 30.000 đồng; iên 3 (89, 98, 82 20.000 đồng, các số đề 99, 98, 68 20.000 đồng/số.

Vân A1 đồng ý nh n tất cả các số đã nhắn ở trên và trả ời b ng tin nhắn “9”, ngh a à nh n tổng 9 tin trong ngày.

Tổng cộng, Nguyễn Thị T đã chuyển đến Nguyễn Vân A1 870 điểm các số ô, và số tiền bán cho những người mua các số đề, các oại số khác à 980.000 đồng.

Giá trị Vân A1 nh n các số ô, đề trên theo quy ước với T à: 870 điểm ô 22.000 đồng/điểm 980.000 đồng đề và các oại số khác 80

19.924.000 đồng.

- Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị T bị quần chúng nhân dân àm đơn tố cáo đến Cơ quan Công an huyện C, tỉnh Nghệ An.

Nh n thức được hành vi phạm tội của mình nên vào hồi 18 giờ 10 phút ngày 19/01/2024 bị cáo Nguyễn Thị T đã đến cơ quan Công an huyện C đầu thú hành vi phạm tội của mình và giao nộp điện thoại Iphone 6s màu hồng, gắn sim số 0972048594; điện thoại Iphone XS Ma màu vàng go d gắn sim số 0867870668 à phương tiện thực hiện hành vi phạm tội của mình.

C ng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C, tỉnh Nghệ n đã tiến hành khám xét khẩn cấp ch ở của Nguyễn Thị T. Quá trình khám t đã thu giữ trên mặt bàn trang điểm trong phòng ngủ 06 mảnh giấy xé ra t lịch treo tường ghi các số tự nhiên (số lô, số đề) và 01(một) mảnh giấy xé ra t vở ô ly ghi các số tự nhiên (số lô, số đề); Số tiền mặt 10.700.000 đồng; 01 thẻ ATM ngân hàng A4, số thẻ 9704050870769325; 01 thẻ ATM ngân hàng M3, số thẻ 9704229348570008. Thu giữ trên bàn uống nước tại phòng khách một mảnh giấy kẻ ngang ghi các số tự nhiên (số lô, số đề).

Ngày 20/01/2024, nh n thấy hành vi của mình là vi phạm pháp lu t nên Đoàn Duy T2 đã đến cơ quan Công an đầu thú hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 (một điện thoại di động NOKI 105 màu đen, số imei 1: 357723114781707, imei 2: 357723114781715, gắn sim Vinaphone số thuê bao 0945766386, đã qua sử dụng.

Ngày 21/01/2024, nh n thấy hành vi của mình là vi phạm pháp lu t nên Nguyễn Vân A1 đã đến cơ quan Công an đầu thú hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra đã ác định được tổng số tiền các bị cáo d ng để đánh bạc trái phép cụ thể như sau:

- Bị cáo Nguyễn Thị T: 20.889.000 đồng (Hai mươi triệu tám trăm tám mươi chính nghìn đồng . Xác định được số tiền các bị cáo và các đối tượng đánh bạc đã thanh toán cho bị cáo T à 17.330.000đồng ( Mười bảy triệu ba trăm ba mươi ngàn đồng), số tiền còn lại các đối tượng đánh bạc chưa trả cho bị cáo T.

- Bị cáo Nguyễn Vân A1: 19.924.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm hai mươi tư nghìn đồng). Bị cáo Vân A1 chưa thanh toán tiền với bị cáo Nguyễn Thị T.

- Bị cáo Đoàn Duy T2: 8.180.000 đồng ( Tám triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).

- Bị cáo Nguyễn Đức T4: 780.000 đồng (Bảy trăm tám mươi nghìn đồng). Số tiền bị cáo T4 d ng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng bị cáo đang có tiền sự về hành vi đánh bạc do đó, hành vi của bị cáo T4 bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Đánh bạc”.

Tổng số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc với bị cáo Nguyễn Thị T cụ thể như sau:

- Lô Văn T7: 600.000 đồng ( Sáu trăm nghìn đồng)

- Vi Văn Đ: 135.000 đồng ( Một trăm ba mươi ăm nghìn đồng)

- Lương Văn M1: 920.000 đồng ( Chín trăm hai mươi nghìn đồng)

- Lê Đức A2: 460.000 đồng ( Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng)

- Đ Thế N1: 230.000 đồng (Hai trăm ba mươi nghìn đồng)

- Quang Văn T10: 345.000 đồng ( Ba trăm bốn mươi ăm nghìn đồng)

- Nguyễn Hùng N2: 3.450.000 đồng ( Ba triệu bốn trăm năm nghìn đồng)

- Lô Văn Hoa: 2.070.000 đồng ( Hai triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng)

-Lô Văn M2:1.775.000 đồng(Một triệu bảy trăm bảy mươi ăm nghìn đồng)

- Lộc Xuân T9: 370.000 đồng ( Ba trăm bảy mươi nghìn đồng)

Đối với Lô Văn T7, Lương Văn M1, Lê Đức A2, Đ Thế N1, Nguyễn Quang T8, Nguyễn Hùng N2, Lô Văn H2, Vi Văn Đ, Lô Văn M2, Lộc Xuân T9 tham gia đánh bạc nhưng số tiền các đối tượng d ng để đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan công an huyện C, tỉnh Nghệ An thu giữ: 01 (một điện thoại di động NOKI 105 màu đen, số imei 1: 357723114781707, imei 2: 357723114781715, gắn sim Vinaphone số thuê bao 0945766386 của Đoàn Duy T2; 01 (một điện thoại Iphone 6s, màu vàng hồng, số IMEI 353263079248941, gắn sim số thuê bao 0972048594, 01 (một điện thoại Iphone Xs Max, màu vàng Gold, số IMEI 353110101217461, gắn sim số thuê bao 0867870668; 01 thẻ ATM ngân hàng A4, số thẻ 9704050870769325; 01 thẻ ATM ngân hàng M3, số thẻ 9704229348570008 đã qua sử dụng, số tiền 10.700.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị T.

Tại Kết lu n kiểm tra ác định tiền th t tiền giả số 03/NHNN ngày 23/01/2024 của Ngân hàng N4 Chi nhánh huyện C, tỉnh Nghệ An kết lu n: “Toàn bộ s tiền mặt có s seri như bảng th ng kê kèm theo mang tới kiểm tra đều là tiền thật do Ngân hàng N5 phát hành có tổng trị giá 10.700.000 đồng”.

- 06 mảnh giấy xé ra t tờ lịch treo tường ghi các số tự nhiên (số lô, số đề) và 01(một) mảnh giấy xé ra t vở ô ly ghi các số tự nhiên (số lô, số đề); một mảnh giấy kẻ ngang ghi các số tự nhiên (số lô, số đề) của Nguyễn Thị T, được ưu c ng hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 12/CT-VKS-CC ngày 07/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ n đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T; Nguyễn Vân A1; Đoàn Duy T2; Nguyễn Đức T4 về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ lu t hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nh n hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều lu t áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ lu t hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T; Nguyễn Vân A1 mức án t 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ lu t hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Duy T2 t 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng; Nguyễn Đức T4 t 20.000.000 đến 25.000.000đồng; Về v t chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS 2015 tịch thu, sung quỹ Nhà nước 03 chiếc điện thoại di động do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc; Truy thu, nộp sung quỹ Nhà nước số tiền số tiền 17.330.000.000đồng ( Mười bảy triệu ba trăm ba mươi ngàn đồng) tiền do bị cáo Nguyễn Thị T thu lợi bất chính, được tr vào số tiền đã thu 10.700.000 đồng ( mười triệu bảy trăm ngàn đồng); trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 thẻ ATM ngân hàng A4, số thẻ 9704050870769325; 01 thẻ ATM ngân hàng M3, số thẻ 9704229348570008, đã qua sử dụng; các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định cuả pháp lu t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Xét lời khai nh n tội của bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại hồ sơ à thống nhất, phù hợp về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện hành vi đánh bạc, phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết lu n: Vào ngày 19/01/2024 tại thôn K, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Vân A1, Đoàn Duy T2, Nguyễn Đức T4 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái ph p dưới hình thức ghi số lô, số đề, đầu, xiên. Tổng số tiền đánh bạc trái phép của các bị cáo được xác định: Bị cáo Nguyễn Thị T: 20.889.000 đồng; bị cáo Nguyễn Vân A1:19.924.000 đồng; bị cáo Đoàn Duy T2: 8.180.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đức T4: 780.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị T; Nguyễn Vân A1; Đoàn Duy T2; Nguyễn Đức T4 đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ lu t hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố à có căn cứ.

Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo: Đây à vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều bị cáo tham gia đánh bạc, số tiền tham gia đánh bạc khác nhau nhưng không có sự phân công vị trí, vai trò của t ng người nên không ác định các bị cáo phạm tội có tổ chức mà chỉ à đồng phạm giản đơn. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tr t tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang và dư u n xấu trong quần chúng nhân dân ở địa phương, tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, ã hội, vì v y cần phải xử phạt th t nghiêm để có tác dụng giáo dục, phòng ng a và răn đe tội phạm.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị T à người trực tiếp ghi các số lô, số đề cho các bị cáo và các đối tượng tham gia đánh bạc và chuyển cho bị cáo Nguyễn Vân A1 để hưởng hoa hồng nên bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Nguyễn Vân A1 có vai trò chính trong vụ án, bị cáo Đoàn Duy T2 là cán bộ, đảng viên nhưng thiếu tu chí, rèn luyện bản thân nên đã thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Đức T4 đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, l ra phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian, nhưng t thấy các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Vân A1, Đoàn Duy T2 tự nguyện ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Nguyễn Vân A1 có bố à người có công trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huy hiệu Chiến sỹ Trường Sơn, Huân chương kháng chiến hạng Ba, bị cáo Nguyễn Đức T4 có bố đẻ à người có công trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất; Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huân chương chiến công hạng Ba, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t hình sự. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng nên xét giao bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Vân A1 cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong quá trình chấp hành án, qua xác minh các bị cáo không có tài sản gì lớn và không có thu nh p ổn định nên xét miễn khấu tr thu nh p và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Vân A1.

Đối với các bị cáo Đoàn Duy T2, Nguyễn Đức T4 số tiền tham gia đánh bạc ít hơn, với vai trò đồng phạm nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, thể hiện sự khoan hồng của pháp lu t đối với người phạm tội.

Về v t chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 (một điện thoại di động NOKI 105 màu đen, số imei 1: 357723114781707, imei 2: 357723114781715, gắn sim Vinaphone số thuê bao 0945766386 của bị cáo Đoàn Duy T2; 01 (một) điện thoại Iphone 6s màu vàng hồng, số IMEI 353263079248941, gắn sim số thuê bao 0972048594; 01 (một điện thoại Iphone Xs Max màu vàng Gold, số IMEI 353110101217461, gắn sim số thuê bao 0867870668, 01 thẻ ATM ngân hàng A4, số thẻ 9704050870769325, 01 thẻ ATM ngân hàng M3, số thẻ 9704229348570008 và số tiền 10.700.000đồng ( mười triệu bảy trăm ngàn đồng ) của bị cáo Nguyễn Thị T. Xét thấy 03 chiếc điện thoại di động gắn sim bị thu giữ là v t chứng các bị cáo sử dụng vào việc nhắn tin đánh bạc, à phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, bán hoá giá nộp vào ngân sách Nhà nước, Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã chứng minh được bị cáo Nguyễn Thị T đánh bạc thu lợi bất chính 17.330.000 đồng ( Mười bảy triệu ba trăm ba mươi ngàn đồng), số tiền này cần phải truy thu nộp sung quỹ Nhà nước, nhưng được tr vào số tiền đã thu tại bị cáo Nguyễn Thị T là 10.700.000 đồng ( mười triệu bảy trăm ngàn đồng); 01 thẻ ATM ngân hàng A4, số thẻ 9704050870769325; 01 thẻ ATM ngân hàng M3, số thẻ 9704229348570008 là của bị cáo Nguyễn Thị T không dùng vào việc phạm tội nên xét trả lại cho bị cáo.

- 06 mảnh giấy xé ra t lịch treo tường ghi các số tự nhiên (số lô, số đề) và 01(một) mảnh giấy xé ra t vở ô ly ghi các số tự nhiên (số lô, số đề); một mảnh giấy kẻ ngang ghi các số tự nhiên (số lô, số đề) là v t chứng vụ án nên tịch thu, ưu vào hồ sơ vụ án. Kết quả điều tra cũng đã ác định được bị cáo Nguyễn Vân A1 chưa thanh toán tiền đánh bạc với Nguyễn Thị T, bị cáo Đoàn Duy T2; Nguyễn Đức T4 đã trả tiền đánh bạc cho bị cáo Nguyễn Thị T nên không truy thu số tiền mà các bị cáo tham gia đánh bạc. Trong vụ án này còn có các đối tượng Lô Văn T7, Lương Văn M1, Lê Đức A2, Đ Thế N1, Nguyễn Quang T8, Nguyễn Hùng N2, Lô Văn H2, Vi Văn Đ, Lô Văn M2, Lộc Xuân T9 là những người đã thực hiện hành vi đánh bạc với Nguyễn Thị T. Tuy nhiên, số tiền sử dụng trong những lần đánh bạc của các đối tượng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện C, tỉnh Nghệ n đã ử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đối với các đối tượng à đúng quy định của pháp lu t.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ lu t hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 ( Một) năm cải tạo không giam giữ về tội “ Đánh bạc”. Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính t ngày UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An được giao giám sát, giáo dục, người bị kết án nh n được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Vân A1 01 ( Một) năm cải tạo không giam giữ về tội “ Đánh bạc”. Giao bị cáo Nguyễn Vân A1 cho UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính t ngày UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An được giao giám sát, giáo dục, người bị kết án nh n được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ lu t hình sự.

- Xử phạt bị cáo Đoàn Duy T2 25.000.000 ( Hai mươi ăm triệu đồng.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T4 20.000.000 ( Hai mươi triệu đồng.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a,b khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015. Tịch thu, bán hoá giá nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một điện thoại di động NOKI 105 màu đen, số imei 1: 357723114781707, imei 2: 357723114781715, gắn sim Vinaphone số thuê bao 0945766386 của bị cáo Đoàn Duy T2; 01 (một điện thoại Iphone 6s màu vàng hồng, số IMEI 353263079248941, gắn sim số thuê bao 0972048594 và 01 (một) điện thoại Iphone Xs Max màu vàng Gold, số IMEI 353110101217461, gắn sim số thuê bao 0867870668 của bị cáo Nguyễn Thị T. Truy thu nộp sung quỹ Nhà nước số tiền số tiền 17.330.000.000đồng ( Mười bảy triệu ba trăm ba mươi ngàn đồng) tiền do bị cáo Nguyễn Thị T thu lợi bất chính, được tr vào số tiền đã thu 10.700.000 đồng ( mười triệu bảy trăm ngàn đồng). Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 thẻ ATM ngân hàng A4, số thẻ 9704050870769325 và 01 thẻ ATM ngân hàng M3, số thẻ 9704229348570008. Đặc điểm v t chứng theo biên bản giao nh n v t chứng số 15 ngày 08/3/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông và biên lai thu tiền số 0000007 ngày 008/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Vân A1, Đoàn Duy T2, Nguyễn Đức T4 m i bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ