vanban.org

Bản án 09/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 267, 269, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Sách T2; [3] Về con chung: Giao con Nguyễn Sách P sinh ngày 24/10/2022 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 267, 269, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH
Bản án HNGĐ sơ thẩm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 21/01/2025
-------------
V/v: Tranh chấp về HN&GĐ.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng.
Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thu; Bà Nguyễn Thị Minh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Cẩm Vân- Thư ký Tòa án.
sát viên.
phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST - HNGĐ, ngày
06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐST-
HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 08 ngày
10/01/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2001; (Có mặt)
Trú tại: Thôn Đông Sơn, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh Nguyễn Sách T2, sinh năm 1999; (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn Lũng Giang, thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Du mở

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án chị Nguyễn Thị T có lời khai trình bày: Chị kết hôn với anh T2 năm 2022 do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Lim, huyện Tiên Du. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình bố mẹ vợ tại Việt Đoàn, huyện Tiên Du. Cuộc sống vợ chồng ổn định đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do kinh tế, anh T2 không chí thú làm ăn trong cuộc sống, công việc chủ yếu do vợ lo toan chứ anh T2 đỡ đần cũng không đáng kể. Khi lấy nhau chị kinh doanh online, năm 2023 chị không làm ăn được và cũng có nợ một chút nên hai vợ chồng hay mâu thuẫn, cãi vã thậm chí đánh nhau. Từ tháng 08/2024 anh T2 về nhà đẻ ở nên vợ chồng chị sống ly thân. Thời gian vừa rồi khi Tòa án báo lên làm việc anh T2 thường xuyên đến nhà bố mẹ chị gây sự, thậm chí đến nhà bố mẹ chị tự cậy cửa vào phòng chị gây sự rồi đe dọa nếu ly hôn sẽ không để chị sống yên. Thời gian qua chị bị khủng hoảng tinh thần rất nhiều, cuộc sống luôn lo sợ và mệt mỏi. Gia đình hai bên đã khuyên ngăn nhưng chị nhận thấy không thể chung sống với anh T2. Đến nay chị làm đơn yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn anh T2.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Sách P, sinh ngày 24/10/2022. Vợ chồng ly hôn chị đề nghị được nuôi con. Từ khi con được sinh ra đến hiện tại đều là một tay chị chăm sóc con, anh T2 không hề có trách nhiệm gì đối với con cái. Công việc của chị đang kinh doanh online thu nhập hàng tháng không cụ thể nhưng cũng khoảng từ 07 đến 08 triệu đồng/01 tháng. Từ trước đến nay con vẫn do chị chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị đảm bảo đủ điều kiện để chăm lo được cho con. Việc cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Không yêu cầu giải quyết;

Phía bị đơn Tòa án đã giao thông báo nhiều lần, các thông báo của Tòa án đã được Công an thị trấn Lim giao cho anh T2. Anh T2 biết rõ việc Tòa án đang giải quyết vụ án nhưng anh T2 luôn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy được lời khai, không công bố chứng cứ và hòa giải được giữa anh chị.

Tại phiên tòa Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm khởi kiện.

Bị đơn vắng mặt hai lần không có lý do nên phiên tòa tiếp tục xét xử theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với bị đơn vắng mặt tại quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa không có lý do nên chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Đại diện VKS nhân dân huyện Tiên Du đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147 BLTTDS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Chị T được ly hôn anh T2.

Về con chung: Giao con Nguyễn Sách P, sinh ngày 24/10/2022 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;

Việc cấp dưỡng nuôi con không đề cập giải quyết;

Anh T2 được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở

Tài sản chung, công nợ chung, trích chia công sức: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T làm đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Sách T2, anh T2 có HKTT và hiện đang cư trú tại thôn Lũng Giang, thị trấn Lim, huyện Tiên Du nên xét việc Tòa án nhân dân huyện Tiên Du thụ lý và giải quyết vụ án là hoàn toàn đúng thẩm quyền theo quy định;

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo hợp lệ đến anh T2 nhưng anh luôn vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Tiên Du ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Công an thị trấn Lim đã giao Quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và xác định mọi giấy tờ, thông báo của Tòa án gửi đã được giao cho anh T2. Như vậy việc vắng mặt tại phiên tòa lần này của anh T2 là lần thứ hai nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định tại Điều 227 BLTTDS.

. Về nội dung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Sách T2 kết hôn năm 2022. Anh chị có đăng ký kết hôn, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn;

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T thì thấy: Cuộc sống vợ chồng chị thực sự xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T trình bày là do anh T2 không chí thú làm ăn trong cuộc sống, một mình chị T phải đi làm và chăm lo cho gia đình. Anh T2 biết rõ việc Tòa án huyện Tiên Du thụ lý giải quyết nhưng luôn cố tình vắng mặt trong quá trình làm việc cũng như phiên tòa nên xác định anh T2 tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Việc anh T2 bỏ mặc không tham gia, không có bất kỳ văn bản trình bày nào phản hồi ý kiến của anh trong quá trình Tòa án giải quyết thể hiện rõ anh T2 không có ý định níu kéo duy trì hôn nhân với chị T.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị là có thực. Mức độ mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình xét thấy cần chấp nhận đơn ly hôn của chị T, xử cho chị được ly hôn anh T2 là phù hợp.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Sách P, sinh ngày 24/10/2022. Chị T có nguyện vọng muốn được nuôi con. Đối với việc chị T xin được nuôi cháu P xét thấy cháu P vẫn còn nhỏ, về công việc, cuộc sống của chị T ổn định đủ điều kiện để chăm lo được cho con. Anh T2 không đến làm việc tại Tòa án nên về công việc và thu nhập của anh không làm rõ được; Xét thấy, từ điều kiện hoàn cảnh của anh T2 và chị T cần giao cháu P cho chị T nuôi sau khi anh chị ly hôn là phù hợp.

Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không đề cập giải quyết;

Anh T2 được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật;

Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 267, 269, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Sách T2;

[3] Về con chung: Giao con Nguyễn Sách P sinh ngày 24/10/2022 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;

Việc cấp dưỡng nuôi con không đề cập giải quyết;

Anh T2 được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001631 ngày 06/11/2024 của Chi cục thi hành án huyện Tiên Du.

[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ