vanban.org

Bản án 09/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn Anh Trần Văn T.

Về con chung: Giao ba cháu Trần Thị Phương A, sinh ngày 03-12-2012, Trần Ngọc K, sinh ngày 27-02-2016 và Trần Quốc H, sinh ngày 14-7-2018 cho Chị Đặng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khi cả ba con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn Anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TY,TỈNH YB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30-01-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY,TỈNH YB

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mai Thu

2. Ông Nguyễn Đức Khâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Thuỷ – Thư ký Toà án nhân dân HUYỆN TY,TỈNH YB.

Ngày 30-01-2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân HUYỆN TY,TỈNH YB xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2023/TLST-HNGĐ ngày 07-11-2023 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26-12-2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 06/QĐST-HNGĐ ngày 11-01-2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1994. Vắng mặt, có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn PL, xã TĐ, HUYỆN TY,TỈNH YB.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn PL, xã TĐ, HUYỆN TY,TỈNH YB.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07-11-2023, trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên toà, nguyên đơn Chị Đặng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và Anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TĐ, HUYỆN TY,TỈNH YB vào ngày 17-12-2013. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống thường xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không cải thiện. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2022 đến nay không ai quan tâm đến nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án nhân dân huyện TY giải quyết cho chị được ly hôn Anh Trần Văn T.

Về con chung: Chị Đặng Thị H và Anh Trần Văn T có ba con chung là Trần Thị Phương A, sinh ngày 03-12-2012, Trần Ngọc K, sinh ngày 27-02-2016 và Trần Quốc H, sinh ngày 14-7-2018. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung là cháu Trần Thị Phương A, Trần Ngọc K và Trần Quốc H, không yêu cầu anh Tcấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện TY đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Tuy nhiên bị đơn Anh Trần Văn T không có mặt tại Tòa án và không có bản tự khai. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của anh Tvà Tòa án không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện TY nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Anh Trần Văn T có đăng ký hộ khẩu tại Thôn PL, xã TĐ, HUYỆN TY,TỈNH YB nên yêu cầu ly hôn của Chị Đặng Thị H thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân HUYỆN TY,TỈNH YB.

Bị đơn Anh Trần Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, Chị Đặng Thị H có đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và Anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TĐ, HUYỆN TY,TỈNH YB vào ngày 27-05-2013 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo Chị Đặng Thị H là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cãi chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình can thiệp giúp đỡ nhưng vẫn không cải thiện. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2022 đến nay không ai quan tâm đến nhau. Tòa án nhân dân HUYỆN TY,TỈNH YB đã thông báo nhiều lần nhưng bị đơn anh Tkhông đến Tòa, không có bản tự khai gửi cho Toà án, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị H, anh Tđã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có căn cứ cho Chị Đặng Thị H được ly hôn Anh Trần Văn T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Đặng Thị H và Anh Trần Văn T có ba con chung là Trần Thị Phương A, sinh ngày 03-12-2012, Trần Ngọc K, sinh ngày 27-02-2016 và Trần Quốc H, sinh ngày 14-7-2018, chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh Tcấp dưỡng. Các cháu Trần Thị Phương A và cháu Trần Ngọc K có nguyện vọng được sống với mẹ. Đồng thời anh Tkhông đến Toà án và không có lời khai thể hiện nguyện vọng được nuôi con, vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần tiếp tục giao cả ba con cho Chị Đặng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Xét thấy anh Tvắng mặt tại Tòa án, chị H cũng không yêu cầu anh Tcấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Đặng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, mặt khác do anh Tchưa có lời khai nên chưa có cơ sở xem xét. Vì vậy, Tòa án không đặt ra giải quyết quan hệ về tài sản và nợ chung.

Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu án phí DSST ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn Anh Trần Văn T.

2. Về con chung: Giao ba cháu Trần Thị Phương A, sinh ngày 03-12-2012, Trần Ngọc K, sinh ngày 27-02-2016 và Trần Quốc H, sinh ngày 14-7-2018 cho Chị Đặng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khi cả ba con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0001360 tại Chi cục thi hành án dân sự HUYỆN TY,TỈNH YB ngày 07-11-2023.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ