- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xét xử, bác yêu cầu khởi kiện xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị T về việc xin ly hôn v i bị đơn Lê Anh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật hôn nhân gia đ nh
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST Ngày 27/3/2024 Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Trung Phƣớc
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Luyến; Bà Nguyễn Thị Việt Hà.
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên
Ngày 27/3/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 13/2023/TLST- HNGĐ, ngày 03/11/2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/03/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Khu X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
Bị đơn: Anh Lê Anh T, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Khu X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: Chị và anh Lê Anh T tự nguyện t m hiểu r i về chung sống v i nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 20/9/2014 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống thời gian đầu chị và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2023 th vợ ch ng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ ch ng không hợp nhau, bất đ ng quan điểm sống, mâu thuẫn của vợ ch ng ngày càng trở nên trầm trọng, khiến cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, đến thời điểm hiện tại t nh cảm vợ ch ng không còn v vậy cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài thêm.
Sau khi xảy ra mâu thuẫn, chị và anh T đã t m cách khắc phục và được hai bên gia đ nh người thân động viên nhưng không có kết quả.
Xét thấy không còn t nh cảm v i anh T nữa cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục và kéo dài thêm được nữa. V vậy chị có nguyện vọng được ly hôn v i anh Lê Anh T.
Tại phiên tòa, chị T trình bày thêm: Trong thời gian chung sống, anh T có biểu hiện quan hệ bất chính v i một số người phụ nữ khác nhau nhưng chị không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Hiện tại chị và anh T mặc dù có mâu thuẫn nhưng vẫn sống chung, sinh hoạt chung, ăn chung và ngủ cùng nhau.
Về con chung: Chị và anh T có hai con chung g m Lê Long M, sinh ngày 20/02/2014 và Lê Huy M, sinh ngày 30/9/2015. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung đến khi hai con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh Lê Anh T cấp dưỡng nuôi hai con chung. Chị là cán bộ kho bạc Nhà nư c huyện T, thu nhập từ lương khoảng 13.400.000 đ ng đ ng/một tháng và thu nhập từ việc kinh doanh là 20.000.000 đ ng/tháng tổng thu nhập hàng tháng là 33.400.000 đ ng/tháng. Chị đã có nhà riêng ở ổn định tại Khu X, thị trấn T.
Về tài sản và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Anh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân đúng như ý kiến tr nh bà của chị Trần Thị T tr nh bày về thời gian về chung sống và địa điểm đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống anh và chị T chung sống hạnh phúc từ khi về chung sống và đăng ký kết hôn năm 2013 đến năm 2022 được khoảng 10 năm đến khoảng đầu năm 2023 th vợ ch ng anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị T hiểu nhầm gia đ nh ch ng, cho rằng ông bà nội không quan tâm đến con, cháu, thời gian gần đây chị T hay đi ăn cơm cơ quan có uống rượu nên anh có nói chị T lần sau không được uống rượu tránh việc mất kiểm soát, ảnh hưởng t i sức khoẻ, bị người khác lợi dụng th bị chị T phản ứng lại và không nghe lời khuyên của anh. Cuộc sống tuy có mâu thuẫn nhưng anh xét thấy chưa t i mức độ phải ly hôn, anh mong chị T suy ngh lại cùng nhau đoàn tụ nuôi dạy con cái. Hiện nay anh vẫn còn t nh cảm và yêu thương chị T, hôn nhân của anh chị vẫn có thể hàn gắn, những mâu thuẫn vẫn có thể khắc phục được. V vậy anh không nhất trí ly hôn v i chị Trần Thị T, và đề nghị Tòa án hòa giải để chị T quay lại đoàn tụ v i anh để cùng nhau nuôi dạy con cái.
Tại phiên tòa, anh T không nhất trí việc chị T cho rằng anh có quan hệ bất chính v i người phụ nữ khác.
Việc nuôi con chung: Anh và chị Trần Thị T có hai con chung tên là Lê Long M, sinh ngày 20/02/2014 và Lê Huy M, sinh ngày 30/9/2015. Nếu phải ly hôn v i chị Trần Thị T, anh có nguyện vọng được trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Huy M cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Đối v i con Lê Long M nếu phải ly hôn anh đ ng ý để chị T nuôi cháu M theo nguyện vọng của con.
Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung do anh không nhất trí ly hôn do vậy anh chưa đề cập giải quyết.
Lời khai các con chung:
Cháu Lê Long M khai: Hiện cháu đang học l p 4A1 tại Trường Tiểu học thị trấn T, cháu đang sống cùng cả bố và mẹ. Cháu không có tài sản riêng, nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được ở v i mẹ.
Cháu Lê Huy M khai: Hiện nay cháu đang học l p 3A1 tại Trường Tiểu học thị trấn T, cháu đang sống cùng cả bố và mẹ. Cháu không có tài sản riêng, nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được ở v i bố.
Biên bản xác minh ngày 19/01/2024, ông Tăng H ng H - Trưởng Khu X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu cung cấp thông tin:
Về quan hệ hôn nhân: Trong quá tr nh chung sống tại địa phương, chị Trần Thị T và anh Lê Anh T chưa xảy ra mâu thuẫn g mà đại diện Tổ dân phố phải can thiệp. Anh T, chị T chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật.
Biên bản xác minh ngày 19/01/2024, ông Trần Trọng T là cha đẻ của chị Trần Thị T cung cấp thông tin: Anh T, chị T tự nguyện t m hiểu r i về sống chung v i nhau và có đăng ký kết hôn. Trong quá tr nh chung sống, thi thoảng thấy hai vợ ch ng mặt nặng mày nhẹ v i nhau, nguyên nhân th ông T không nắm được. Hiện anh T, chị T vẫn chung sống v i nhau b nh thường, không có mâu thuẫn g đến mức phải ly hôn.
Xác minh t nh trạng hôn nhân của chị T, anh T tại khu dân cư: Anh Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Hải Y đều là hàng xóm của chị T, anh T đều cho biết: Quá tr nh sinh sống, bản thân anh L, bà Y đều chưa thấy gia đ nh anh T, chị T có mâu thuẫn, cãi vã g nhau, hàng ngày vẫn thấy vợ ch ng anh chị sống t nh cảm, buổi tối và ngày nghỉ vẫn thấy anh T, chị T bán hàng cùng nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi vụ án được đưa ra xét xử, Thẩm phán, Hội đ ng xét xử và thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, chính xác tr nh tự thủ tục tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và ngh a vụ của m nh theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cũng như các văn bản pháp lý liên quan.
Nguyên đơn, Bị đơn trong vụ án chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thực hiện quyền, ngh a vụ của m nh.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 69, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83/Luật hôn nhân gia đ nh; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273/Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27/Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị T về việc ly hôn v i bị đơn Lê Anh T do mâu thuẫn vợ ch ng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Về con chung: Đề nghị giao con chung Lê Long M, sinh ngày 20/02/2014 cho nguyên đơn Trần Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Giao con chung Lê Huy M, sinh ngày 30/9/2015 cho bị đơn Lê Anh T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, để phù hợp v i điều kiện thực tế của nguyên đơn, bị đơn cũng như phù hợp v i nguyện vọng của con. Nguyên đơn, bị đơn không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung, công nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong h sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đ ng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đ nh, bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39/Bộ luật Tố tụng dân sự th vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Lê Anh T có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T huyện T, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện, v vậy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị T, anh T chung sống v i nhau hạnh phúc. Theo lời khai của chị T thì thời gian gần đây đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ ch ng không hợp nhau, bất đ ng quan điểm sống, mâu thuẫn của vợ ch ng ngày càng trở nên trầm trọng, khiến cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, đến thời điểm hiện tại t nh cảm vợ ch ng không còn v vậy cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài thêm.
Theo lời khai của anh T th cuộc sống của anh chị tuy có mâu thuẫn nhưng anh xét thấy chưa t i mức độ phải ly hôn, anh mong chị T suy ngh lại cùng nhau đoàn tụ nuôi dạy con cái. Hiện nay anh vẫn còn t nh cảm và yêu thương chị T, hôn nhân của anh chị vẫn có thể hàn gắn, những mâu thuẫn vẫn có thể khắc phục được.
Bên cạnh đó, kết quả xác minh tại Khu X, thị trấn T, huyện T là nơi cư trú của vợ ch ng chị T, anh T, cũng như xác nhận của ông Trần Trọng T là cha đẻ của chị Trần Thị T, thì quá tr nh chung sống tại địa phương, chị Trần Thị T và anh Lê Anh T chưa xảy ra mâu thuẫn g mà đại diện Tổ dân phố phải can thiệp. Hiện anh T, chị T vẫn chung sống v i nhau b nh thường, không có mâu thuẫn g đến mức phải ly hôn. Hàng xóm của anh T, chị T đều xác nhận chưa nh n thấy gia đ nh anh T, chị T có mâu thuẫn, cãi vã g nhau, hàng ngày vẫn thấy vợ ch ng anh chị sống t nh cảm.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Trần Thị T cho rằng anh Lê Anh T có biểu hiện quan hệ bất chính v i người phụ nữ khác, là một phần tạo ra mâu thuẫn vợ ch ng, nhưng chị T không đưa ra được chứng cứ anh T có quan hệ bất chính v i người phụ nữ khác.
Như vậy, mặc dù quy định tại Điều 51/Luật hôn nhân và gia đ nh th chị T có quyền yêu cầu giải quyết cho ly hôn v i anh T, tuy nhiên quá tr nh giải quyết vụ án, chị T không chứng minh được mâu thuẫn trong quan hệ vợ ch ng đã trầm trọng. Xét thấy không có căn cứ về việc vợ, ch ng có hành vi bạo lực gia đ nh hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, ngh a vụ của vợ, ch ng làm cho hôn nhân lâm vào t nh trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, quy định tại khoản 1 Điều 56/Luật Hôn nhân và gia đ nh. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn v i bị đơn là thiếu căn cứ, không phù hợp v i hoàn cảnh thực tế của anh T, chị T ở thời điểm hiện tại. V vậy Hội đ ng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị T cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp về việc cho chị T được ly hôn v i anh T.
. Về nuôi con chung: Chị Trần Thị T và anh Lê Anh T có 02 con chung chưa thành niên và còn sống phụ thuộc. Hiện nay các con chung của anh T, chị T đang ở độ tuổi cần bàn tay chăm sóc của cả bố và mẹ để có đủ điều kiện phát triển toàn diện. Bên cạnh đó do không có căn cứ cho nguyên đơn được ly hôn v i bị đơn nên không xem xét giải quyết việc nuôi con chung
. Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147/Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 69, Điều 71, Điều 72/Luật hôn nhân gia đ nh; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273/Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27/Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị T về việc xin ly hôn v i bị đơn Lê Anh T.
2. Về nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, công nợ chung, cho vay chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
4. Về án phí: Nguyên đơn Trần Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, chị T đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai số 0000765, ngày 03/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, nay 300.000đ đã nộp được chuyển thành án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện T; - Chi cục THA dân sự huyện T; - Các đương sự; - Lưu h sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Trung Phƣớc |