- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án xét xử ly hôn giữa chị Võ Thị T và anh Trần Minh N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 5 - 2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đặng và bà Trần Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Trang Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;
2. Bị đơn: Anh Trần Minh N, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 16 tháng 01 năm 2024 được bổ sung tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị T trình bày: Chị và anh Trần Minh N tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 02-3-2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Nhã thường xuyên rượu chè, không lo làm ăn, thiếu trách nhiệm với gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn quá trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.
Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung tên Trần Thị N, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2011, hiện nay đang sống chung cùng chị T. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, Chị có nguyện vọng tự nguyện nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 14 tháng 3 năm 2024, bị đơn anh Trần Minh N trình bày: Anh và chị Võ Thị T tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 02-3-2010. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, chỉ có mâu thuẫn nhỏ, Anh vẫn còn tình cảm với chị T. Nay, chị T xin ly hôn, Anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình, còn nếu chị T kiên quyết ly hôn đề nghị Tòa án xem xét theo nguyện vọng của chị Tình.
Về con chung: Vợ chồng Anh có một con chung tên Trần Thị N, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2011, hiện đang sống chung cùng chị T. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, Anh có nguyện vọng giao con cho chị Tình trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện tại, Anh không có việc làm, không có thu nhập nên tạm thời không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng Anh không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện từ thụ lý vụ án đến khi xét xử đúng quy định tại các điều 39, 48, 49, 68, 93, 95, 96, 97, 195, 196, 203, 204, 208, 209, 220 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 53, 54 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đương sự chấp hành pháp luật đúng quy định tại các điều 68, 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Võ Thị T, xử cho chị T được ly hôn anh Trần Minh N. Về con chung: Áp dụng các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao con Trần Thị N, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2011 cho chị Võ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; không buộc anh Nhã cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị T, anh N thống nhất vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Chị Võ Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Minh N có địa chỉ tại thôn Đ, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Võ Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Minh N vắng mặt lần thứ hai, căn cứ vào Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị T và anh Trần Minh N lấy nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, như vậy hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Theo chị T tình bày: Quá trình chung sống, anh N thường xuyên rượu chè, không lo làm ăn, thiếu trách nhiệm với gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, hai người đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai; anh N cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, anh N vẫn còn tình cảm với chị T và mong muốn đoàn tụ, còn nếu chị T kiên quyết xin ly hôn Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị T. Tuy nhiên, Tòa án đã triệu tập anh N nhiều lần để vận động, hòa giải vợ chồng đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình, nhưng anh N đều không có mặt; điều đó chứng tỏ anh N không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng mà chỉ muốn kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị T.
Về quan hệ con chung: Chị Võ Thị T và anh Trần Minh N thống nhất vợ chồng có một con chung Trần Thị N, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2011, hiện nay đang sống cùng chị T. Chị T có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, anh N đồng ý giao con cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và tạm thời không cấp dưỡng nuôi con vì anh N không có việc làm và thu nhập. Xét thấy, sự thỏa thuận của chị T, anh N là có cơ sở và phù hợp với nguyện vọng của cháu N nên HĐXX cần chấp nhận.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Võ Thị T và anh Trần Minh N thống nhất vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Chị Võ Thị T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,
1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Xử cho ly hôn giữa chị Võ Thị T và anh Trần Minh N.
2. Về nuôi con chung: Áp dụng các điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Xử giao con Trần Thị N, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2011 cho chị Võ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 4/2024 cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi); tạm thời không buộc anh Nhã cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Võ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Số tiền án phí ly hôn chị T phải nộp được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án huyện Quảng Ninh theo biên lai BLTU/23 số 0003766, ngày 24 tháng 01 năm 2024.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Võ Thị T và anh Trần Minh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh; - VKSND huyện Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Bình; - UBND xã G; - Lưu VP, Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Nhàn |