vanban.org

Bản án 09/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Xuân Đ, xử cho anh Nguyễn Xuân Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mí H.

Về con chung: giao con chung tên là Nguyễn Đức Minh N, sinh ngày 12/9/2008; Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 01/7/2011 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 14/01/2016 cho anh Nguyễn Xuân Đ có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị Mí H không phải cấp dưỡng nuôi con. Quyền đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Nguyễn Xuân Đ với chị Nguyễn Thị Mí H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Xuân Đ, xử cho anh Nguyễn Xuân Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mí H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 30-01-2024
V/v ly hôn; tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Luân;

2. Bà Nguyễn Thị Thùy.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Cương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 384/2023/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2023/QĐXXST– HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST-DS ngày 11/01/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1986.

Địa chỉ: thôn C, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị Mí H, sinh năm 1990.

Địa chỉ: thôn C, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn, nguyên đơn anh Nguyễn Xuân Đ trình bày thì:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Nguyễn Thị Mí H kết hôn với nhau vào ngày 04/3/2008, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Mí H thường xuyên bỏ nhà đi mỗi khi anh đi làm về muộn. Anh đã giải thích cho chị Mí H nhiều lần nhưng chị Mí H không thông cảm, không chia sẻ với anh. Từ năm 2019 đến nay, chị Mí H bỏ đi, không trở về. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết cho anh được ly hôn với chị Mí H.

Về con chung: vợ chồng anh có con chung tên là Nguyễn Đức Minh N, sinh ngày 12/9/2008; Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 01/7/2011 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 14/01/2016. Khi ly hôn, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 con chung. Anh không yêu cầu chị Mí H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: vợ chồng anh không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng anh không có nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Đ không yêu cầu gì thêm.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Mí H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng hết thời hạn theo thông báo, chị Nguyễn Thị Mí H không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án làm việc.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp hòa giải nhưng bị đơn chị Nguyễn Thị Mí H vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Xuân Đ, xử cho anh Nguyễn Xuân Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mí H. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Nguyễn Đức Minh N, sinh ngày 12/9/2008; Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 01/7/2011 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 14/01/2016 cho anh Nguyễn Xuân Đ có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, anh Nguyễn Xuân Đ không yêu cầu chị Nguyễn Thị Mí H phải cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: buộc anh Nguyễn Xuân Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn anh Nguyễn Xuân Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn chị Nguyễn Thị Mí H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn chị Nguyễn Thị Mí H cư trú tại: thôn C, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng nên theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Xuân Đ và chị Nguyễn Thị Mí H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 04/3/2008 nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Xuân Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình xác minh cơ quan, đoàn thể ở địa phương thì được biết nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh Nguyễn Xuân Đ và chị Nguyễn Thị Mí H là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra xô xát nhau. Anh Đ và chị Mí H đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đ và chị Mí H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân của anh, chị cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Đ, xử cho anh Đ được ly hôn với chị Mí H là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: anh Đ xác định anh và chị Mí H có con chung tên là Nguyễn Đức Minh N, sinh ngày 12/9/2008; Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 01/7/2011 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 14/01/2016.

Xét thấy, từ khi chị Mí H bỏ nhà đi từ năm 2019 đến nay, các con chung vẫn sống cùng với anh Đ ổn định nên để đảm bảo sự ổn định tâm sinh lý cho trẻ, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung là Nguyễn Đức Minh N, sinh ngày 12/9/2008; Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 01/7/2011 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 14/01/2016 cho anh Đ có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, anh Đ không yêu cầu chị Mí H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung: đương sự xác định không có tài sản chung và thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Về nợ chung: đương sự xác định không có nợ chung và thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: buộc anh Đ phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Xuân Đ, xử cho anh Nguyễn Xuân Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mí H.

2. Về con chung: giao con chung tên là Nguyễn Đức Minh N, sinh ngày 12/9/2008; Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 01/7/2011 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 14/01/2016 cho anh Nguyễn Xuân Đ có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị Mí H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

2. Về án phí: buộc anh Nguyễn Xuân Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000170 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Anh Nguyễn Xuân Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ