vanban.org

Bản án 09/2024/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 13/03/2024 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định chia tài sản chung của chị Mai Thị Thúy D và anh Nguyễn T n Kh theo Bản án d n sự sơ th m số 257/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nh n d n huyện Hải Hậu, t nh Nam Định.

Án phí d n sự phúc th m: Anh Nguyễn T n Kh phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí phúc th m mà anh Khoa đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số 0002760 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi c c thi hành án D n sự huyện Hải Hậu, t nh Nam Định. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị Thúy D - Nguyễn Tân K"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định chia tài sản chung của chị Mai Thị Thúy D và anh Nguyễn T n Kh theo Bản án d n sự sơ th m số 257/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nh n d n huyện Hải Hậu, t nh Nam Định.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ-PT
Ngày 13-3-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con,
chia tài sản chung khi ly hôn
giữa chị Dịu và anh Khoa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Anh Dũng Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Tiến Dũng

Ông Lại Văn Tùng

- Thư ký phiên toà:

Ông Vũ Hoàng Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại tr s , Toà án nh n d n t nh Nam Định t

phúc th m công khai v án hôn nh n và gia đình th lý số 15/2023/TLPT-HNGĐ ngày 22-11-2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn”.

Do ản án d n sự sơ th m số 257/2023/HNGĐ-ST ngày 27/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu - t nh Nam Định ị kháng cáo. Theo Quyết định đưa v án ra t số 101/2023/QĐ-PT ngày 07-12-2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Mai Thị Thúy D, sinh năm 1986

Nơi thường trú: Tổ d n phố số 2, thị trấn YĐ, huyện HH, t nh Nam

Định

- Bị đơn: Nguyễn Tân Kh, sinh năm 1983

Nơi thường trú: Tổ d n phố số 2, thị trấn YĐ, huyện HH, t nh Nam

Định

Nơi hiện nay: Tổ d n phố số 22, thị trấn TL, huyện HH, t nh Nam Định

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Hiếu, sinh năm 1971; nơi thường trú: Xóm Tiền Phong 2, ã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, t nh Nam Định; Hiện đang trú tại: P602 chung cư số 18, ngõ 488 Trần Cung, phương Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Phạm Kỳ Dương, luật sư Hà Trọng Đại - Công ty luật TNHH Hà Trọng Đại và cộng sự; Địa ch : Tầng 2, tòa nhà B5D6, ngõ 56, đường Trương Công Giai, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quỹ tín d ng nh n d n thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quang Huy - Giám đốc

Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn T n Kh.

(Tại phiên tòa có mặt anh Nguyễn Tân Kh, ông Nguyễn Văn Hiếu, luật sư Phạm Kỳ Dương. Vắng mặt: Luật sư Hà Trọng Đại; chị Mai Thị Thúy D, ông Bùi Quang Huy - có đơn xin xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn kh i kiện và quá trình tố t ng tại Tòa án, nguyên đơn chị Mai Thị Thúy D trình bày:

Về quan hệ hôn nh n: Chị Mai Thị Thúy D và anh Nguyễn T n Kh đăng ký kết hôn ngày 16/11/2010 tại UBND thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định trên cơ s tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Tổ d n phố số 2, thị trấn YĐ, huyện HH, t nh Nam Định. Quá trình chung sống, do anh Khoa không có công việc ổn định nên kinh tế khó khăn, tính tình lại không hòa hợp nên vợ chồng không động viên, chia sẻ được với nhau. Năm 2016, vợ chồng m u thuẫn, anh Khoa đã đưa con gái chưa đầy 12 tháng tuổi về cùng ố mẹ đẻ tại thị trấn Thịnh Long. Được gia đình đôi ên hòa giải, cũng vì thương con còn quá nhỏ nên chị Dịu chấp nhận đoàn t . Từ đó đến nay, m u thuẫn không những không chấm dứt mà m , k o dài. Tháng 10/2022, vợ chồng m u thuẫn trầm trọng, trong khi chị Dịu đi làm, anh Khoa đã tự ý chuyển trường, chuyển đồ đưa con gái về cùng ố mẹ đẻ tại thị trấn Thịnh Long. Sau đó, anh Khoa nhiều lần viết đơn in ly hôn nhưng ch để cảnh áo chị Dịu mà không nộp tại Tòa án. Đồng thời, anh Khoa viết và treo iển “ án nhà” tại nhà đất chung của vợ chồng, nơi chị Dịu và cháu Nhật đang mà không được sự đồng ý của chị Dịu. Cũng từ đó, anh Khoa thường uyên có những lời lẽ úc phạm chị Dịu và gia đình chị Dịu. Từ khi chị Dịu nộp đơn in ly hôn, tại ản tự khai, anh Khoa một mặt trình ày còn yêu thương vợ con nhưng mặt khác lại g i đơn thư đến nhà trường, Phòng Giáo d c đào tạo huyện Hải Hậu, S Giáo d c đào tạo t nh Nam Định m c đích để hạ thấp uy tín, danh dự của chị Dịu. Nhận thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, m u thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể k o dài nên chị Dịu đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Khoa.

Về con chung: Chị Dịu và anh Khoa có hai con chung cháu Nguyễn Mai Bảo Hân, sinh ngày 10/10/2015 và cháu Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 15/10/2020. Hiện nay, cháu H n đang cùng anh Khoa, cháu Nhật đang cùng chị Dịu. Chị Dịu hiện có công việc, chỗ ổn định, có thể tạo điều kiện học tập tốt nhất cho các con nên chị Dịu nhận nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh Khoa cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống, chị Dịu và anh Khoa đã tạo lập được khối tài sản chung gồm: Quyền s d ng th a đất số 472, tờ số 3 thị trấn Yên Định diện tích 112,5m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất (GCNQSDĐ) tên chị Dịu, anh Khoa và các công trình, tài sản gắn liền với đất gồm 01 nhà cấp ốn lợp tôn, công trình ph liền kề phía ắc thổ đất; 01 lán dại lợp tôn phía nam... Ngoài ra, vợ chồng còn có một số đồ dùng sinh hoạt thiết yếu trong gia đình như ti vi, tủ lạnh, máy giặt, điều hòa. Tuy nhiên, vì tất cả đồ dùng đều đã cũ, không còn giá trị hoặc giá trị rất nhỏ nên chị Dịu không kê khai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa v tài sản: Trong thời gian chung sống, do kinh tế khó khăn, vợ chồng nhiều lần vay tiền tại Quỹ tín d ng nh n d n thị trấn Yên Định. Khi Tòa án th lý v án, chị Dịu và anh Khoa còn nợ tại Quỹ tín d ng Yên Định số tiền 170.000.000đ. Đầu tháng 9/2023, khoản nợ đến hạn, Quỹ tín d ng nhiều lần đến nhà yêu cầu đòi nợ, anh Khoa không nhà nên chị Dịu đã vay mượn trả ong khoản nợ này. Tuy nhiên, Quỹ tín d ng Yên Định chưa àn giao sổ đỏ gốc đã thế chấp cho chị Dịu.

Do mẹ con chị Dịu hiện chưa có chỗ nào khác, điều kiện kinh tế khó khăn nên chị Dịu đề nghị Tòa án chia đôi khối tài sản chung vợ chồng, chia ằng hiện vật cho chị Dịu và anh Khoa. Chị Dịu nhận phần đất phía ắc có công trình nhà cấp ốn mẹ con đang , phần còn lại có lán dại y lợp tôn giao anh Khoa s d ng. Chị Dịu yêu cầu anh Khoa phải trả ½ số tiền chị Dịu đã ỏ ra trả nợ Quỹ tín d ng. Đề nghị Tòa án c n đối giữa tài sản được chia và nghĩa v tài sản phải thực hiện cho chị Dịu và anh Khoa.

* Tại đơn trình ày ghi ngày 08/8/2023, ị đơn anh Nguyễn T n Kh trình ày: Anh Khoa đã nhận được Thông áo về việc th lý v án số 197/TB- TLVA của Tòa án nh n d n huyện Hải Hậu nhưng do anh Khoa không đồng ý ly hôn nên chưa có ý kiến về con chung, tài sản. Bản th n anh Khoa là người thương yêu vợ con, mong muốn có gia đình hoàn ch nh cho các con nên khi m u thuẫn ảy ra đã chủ động nhắn tin, hòa giải với chị Dịu. Do hiện nay các con chung giữa chị Dịu và anh Khoa đều còn nhỏ, m u thuẫn vợ chồng không có gì lớn, ch là các m u thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày nên anh Khoa đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn t .

* Ông Bùi Quang Huy - Giám đốc Quỹ tín d ng nh n d n thị trấn Yên Định trình ày: Tại Hợp đồng tín d ng số 3338/HĐTD ngày 19 tháng 9 năm 2022, Quỹ tín d ng Yên Định đã cho vợ chồng anh Khoa, chị Dịu vay số tiền 170.000.000đ, thời hạn 01 năm, lãi suất 10,95%/năm. Anh Khoa, chị Dịu thế chấp nhà và quyền s d ng đất GCNQSDĐ số BP 702508 ngày 19/5/2014 để đảm ảo khoản vay. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Khoa, chị Dịu thực hiện đầy đủ nghĩa v . Khi chị Dịu in ly hôn anh Khoa, Quỹ tín d ng đã nhiều lần yêu cầu khách hàng trả nợ nhưng không gặp anh Khoa. Ngày 12/9/2022, chị Dịu đã thanh toán trả đủ số tiền 170.000.000đ cho Quỹ tín d ng nh n d n thị trấn Yên Định. Tuy nhiên, do GCNQSDĐ anh Khoa và chị Dịu cùng àn giao nên Quỹ tín d ng sẽ giao lại cho các ên liên quan theo quyết định của Tòa án.

Tại phiên tòa, chị Dịu giữ ý kiến, yêu cầu đã trình ày. Anh Khoa ác định quá trình chung sống vợ chồng có m u thuẫn nhưng ch là m u thuẫn nhỏ, tình cảm vợ chồng chưa hoàn toàn chấm dứt nên không nhất trí ly hôn. Trong trường hợp phải ly hôn, anh Khoa nhận nuôi cả hai con chung, không yêu cầu chị Dịu cấp dưỡng. Về tài sản: Anh Khoa và người đại diện theo ủy quyền của anh Khoa đều ác nhận vợ chồng có khối tài sản chung như chị Dịu đã kê khai. Tuy nhiên, ông Hiếu, anh Khoa đều đề nghị Hội đồng t tạm ngừng phiên tòa với lý do Hội đồng định giá đã ác định giá trị quyền s d ng đất chung cho tất cả các loại đất mà không ác định theo từng loại đất, chủ tịch Hội đồng định giá à Phạm Thị Cúc không có trong Quyết định thành lập Hội đồng định giá. Do th a đất ch có một phần đất , không đủ diện tích tối thiểu để tách th a nên anh Khoa in nhận s hữu, s d ng toàn ộ khối tài sản chung vợ chồng, nhận thanh toán chênh lệch chia tài sản cho chị Dịu. Ngoài ra, anh Khoa nhận trả cho chị Dịu số tiền 85.000.000đ chị Dịu đã ỏ ra thực hiện nghĩa v cho anh Khoa.

Người ảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ị đơn luật sư Phạm Kỳ Dương nhất trí với ý kiến, yêu cầu anh Khoa, ông Hiếu đã trình ày. Do chưa đủ điều kiện để ác định hôn nh n giữa chị Dịu và anh Khoa đã trầm trọng theo quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng t

ác đơn in ly hôn của chị Dịu. Đối với yêu cầu in tạm ngừng phiên tòa của anh Khoa và ông Hiếu, luật sư hoàn toàn nhất trí và ổ sung thêm lý do in tạm ngừng để ác minh thêm tài liệu chứng cứ chứng minh nguồn gốc hình thành, công sức đóng góp của các đương sự vào khối tài sản chung vợ chồng.

Từ nội dung v án như trên, tại ản án d n sự sơ th m số 257/2023/HNGĐ-ST ngày 27-9-2023 của Tòa án nh n d n huyện Hải Hậu - t nh Nam Định, đã quyết định:

Căn cứ các Điều 33, 43, 46, 51, 55, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nh n và gia đình.

1. Về quan hệ hôn nh n: Cho ly hôn giữa chị Mai Thị Thúy D và anh Nguyễn Tân Kh

2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 15/10/2020 cho chị Mai Thị Thúy D và giao con chung cháu Nguyễn Mai Bảo Hân, sinh ngày 10/10/2015 cho anh Nguyễn T n Kh nuôi dưỡng đến khi các con chung thành niên, lao động tự lập được. Chị Dịu, anh Khoa không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau và có mọi quyền, nghĩa v đối với các con chung.

Do cháu Nhật đang với chị Dịu, cháu H n đang cùng anh Khoa nên hai ên không phải àn giao con cho nhau nuôi dưỡng.

3. Về tài sản chung:

- Chia chị Mai Thị Thúy D được quyền s d ng đất diện tích 66,5m2 (trong đó: 24 m2 OĐT; 22,5 m2 CLN) thuộc th a số 472, tờ ản đồ số 3 thị trấn Yên Định, GCNQSDĐ số BP 702508 do UBND huyện cấp ngày 19/5/2014, tên người s d ng ông Nguyễn T n Kh và bà Mai Thị Thúy D, được giới hạn i các điểm 1,2,3,4,1 (ký hiệu S1) trị giá 1.064.000.000đ và được quyền s hữu các công trình, tài sản y dựng trên th a đất này gồm: Nhà lợp tôn trị giá 55.961.000đ; ếp trị giá 9.573.000đ; nhà vệ sinh trị giá 3.338.000đ; nhà tắm trị giá 2.759.000đ; dại trị giá 1.474.000đ; tường rào trị giá 525.000đ. Tổng giá trị tài sản chị Dịu được chia ằng 1.137.630.000đ (một tỷ một trăm a mươi ảy triệu sáu trăm a mươi nghìn đồng).

- Chia anh Nguyễn T n Kh được quyền s d ng đất diện 46m2 (trong đó: 22m2 OĐT; 24m2 CLN) thuộc th a số 472, tờ ản đồ số 3 thị trấn Yên Định, GCNQSDĐ số BP 702508 do UBND huyện cấp ngày 19/5/2014, tên người s d ng ông Nguyễn T n Kh và bà Mai Thị Thúy D được giới hạn i các điểm 4,3,6,5,4 trị giá 736.000.000đ. Anh Khoa được quyền s hữu các công trình, tài sản y dựng trên th a đất này gồm: Lán lợp tôn trị giá 6.455.000đ và c a sắt trị giá 5.000.000đ. Tổng giá trị tài sản anh Khoa được chia ằng 747.455.000đ ( ảy trăm ốn ảy triệu ốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Anh Khoa phải hoàn trả cho chị Dịu số tiền chị Dịu đã ỏ ra trả nợ Quỹ tín d ng nh n d n Yên Định 85.000.000đ (tám mươi lăm triệu đồng) và tiền chi phí tố t ng 5.000.000đ (năm triệu đồng).

- C n đối chia tài sản: Buộc chị Dịu phải thanh toán chênh lệch cho anh Khoa số tiền 105.087.500đ (một trăm linh năm triệu không trăm tám mươi ảy nghìn năm trăm đồng).

Việc ph n chia Quyền s d ng đất có sơ đồ vẽ kèm theo. Các đương sự có nghĩa v àn giao tài sản cho nhau s hữu, s d ng theo Quyết định của Tòa án.

Kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành ong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật D n sự.

4. Buộc Quỹ tín d ng nh n d n thị trấn Yên Định phải àn giao ản gốc GCNQSDĐ số BP 702508 ngày 19/5/2014 cho chị Mai Thị Thúy D. Sau khi làm thủ t c chuyển quyền, chị Dịu có trách nhiệm àn giao GCNQSDĐ kể trên cho anh Khoa làm thủ t c chuyển quyền s d ng đất theo quyết định của Tòa án.

Ngoài ra, ản án sơ th m còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03-10-2023, anh Nguyễn T n Kh có đơn kháng cáo với nội dung: Không nhất trí với nội dung của Bản án sơ th m số 257/2023/HNGĐ-ST ngày 27-9-2023 của Tòa án nh n d n huyện Hải Hậu, đề nghị Tòa án nh n d n t nh Nam Định hủy ản án sơ th m để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Chị Mai Thị Thúy D có đơn in t vắng mặt, chị giữ nguyên nội dung đã trình ày tại cấp sơ th m và đề nghị cấp phúc th m giữ nguyên Bản án sơ th m. Do đó các đương sự trong v án không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết v án.

- Anh Nguyễn T n Kh tự nguyện rút một phần yêu cầu kháng cáo về quan hệ hôn nh n và nuôi con chung; đối với yêu cầu kháng cáo về chia tài sản anh Khoa vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Người đại diện theo ủy quyền và người ảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ị đơn trình ày: Nhất trí với yêu cầu tự nguyện rút một phần kháng cáo về quan hệ hôn nh n, nuôi con chung và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của anh Khoa về chia tài sản chung với lý do: Anh Khoa và chị Dịu có khối tài sản chung như chị Dịu đã kê khai. Tuy nhiên, cấp sơ th m đã ác định giá trị quyền s d ng đất chung cho tất cả các loại đất mà không ác định theo từng loại đất là không đúng quy định của pháp luật. Do th a đất ch có một phần đất , không đủ diện tích tối thiểu để tách th a nên anh Khoa in nhận s hữu, s d ng toàn ộ khối tài sản chung vợ chồng, nhận thanh toán chênh lệch chia tài sản cho chị Dịu số tiền là 1 tỷ đồng.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát iểu ý kiến:

Về tố t ng: Quá trình giải quyết v án tại cấp phúc th m, Th m phán và Hội đồng t đã tu n theo các quy định pháp luật tố t ng d n sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố t ng d n sự, quyền lợi của các đương sự được ảo đảm.

Xét nội dung kháng cáo của ị đơn: Tại phiên tòa, anh Nguyễn T n Kh tự nguyện rút một phần yêu cầu kháng cáo về quan hệ hôn nh n và nuôi con chung, việc rút một phần yêu cầu kh i kiện của ị đơn hoàn toàn tự nguyện, nên được chấp nhận, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 5 Điều 308 BLTTDS năm 2015 đình ch t phúc th m đối với yêu cầu kháng cáo của anh Khoa về quan hệ hôn nh n và nuôi con chung. Về tài sản anh Khoa cho rằng cấp sơ th m đã ác định giá trị quyền s d ng đất chung cho tất cả các loại đất mà không ác định theo từng loại đất là không đúng quy định của pháp luật. Do th a đất ch có một phần đất , không đủ diện tích tối thiểu để tách th a nên anh Khoa in nhận s hữu, s d ng toàn ộ khối tài sản chung vợ chồng, nhận thanh toán chênh lệch chia tài sản cho chị Dịu. Tuy nhiên ị đơn, người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ị đơn không đưa ra được lý do chính đáng, căn cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn T n Kh về yêu cầu chia tài sản chung, giữ nguyên ản án sơ th m và giải quyết án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án, đã được th m tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng t nhận định:

Đơn kháng cáo của anh Nguyễn T n Kh được làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng t

em t theo trình tự tố t ng phúc th m.

Về thủ t c tố t ng: Quá trình giải quyết v án, cấp sơ th m đã thực hiện đầy đủ các quy định của BLTTDS, không có vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng, ảo đảm được quyền và nghĩa v tố t ng của các đương sự trong v án.

X t nội dung kháng cáo của anh Nguyễn T n Kh:

Tại phiên tòa phúc th m, anh Nguyễn T n Kh tự nguyện in rút một phần kháng cáo về quan quan hệ hôn nh n và nuôi con chung: Anh Khoa nhất trí ly hôn với chị Mai Thị Thúy D. Về con chung: Anh Khoa nhất trí nội dung Bản án sơ th m là giao chị Dịu nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 15/10/2020. Giao anh Khoa nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Mai Bảo H n, sinh ngày 10/10/2015, hai ên không phải cấp dưỡng nuôi con, không phải àn giao con cho nhau. X t thấy anh Khoa rút một phần yêu cầu kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không ị ai p uộc nên được Hội đồng t phúc th m chấp nhận, do đó căn cứ khoản 5 Điều 308 BLTTDS, HĐXX đình ch t phúc th m đối với kháng cáo về quan hệ hôn nh n và nuôi con chung của anh Nguyễn T n Kh.

Về tài sản chung:

Quá trình chung sống, chị Dịu và anh Khoa đã tạo lập được tài sản chung gồm: Quyền s d ng th a đất số 472, tờ ản đồ số 3 thị trấn Yên Định diện tích 112,5m2 GCNQSDĐ tên ông Nguyễn T n Kh và bà Mai Thị Thúy D và các công trình y dựng trên đất gồm nhà lợp tôn, ếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, dại lợp tôn, cổng, tường rào có tổng giá trị 1.885.085.000đ. Khi ly hôn, chị Dịu đề nghị chia tài sản chung tỷ lệ ngang nhau cho chị Dịu, anh Khoa, mỗi người được hư ng 1/2 tài sản chung ằng 942.542.500đ. Chia ằng hiện vật, chị Dịu nhận s d ng phần đất phía ắc diện tích 66,5m2, trên đất có nhà cấp ốn lợp tôn, công trình ph liền kề; giao anh Khoa s d ng phần đất phía nam diện tích 46m2, trên đất có lán lợp tôn và cổng.

Căn cứ vào nhu cầu thực tế thì thấy: Anh Khoa in nhận s hữu, s d ng toàn ộ khối tài sản chung vợ chồng, nhận thanh toán chênh lệch chia tài sản cho chị Dịu, tuy nhiên chị Dịu cùng con trai đang sinh sống tại nhà lợp tôn trên phần đất phía ắc th a đất, ngoài chỗ hiện nay chị Dịu không còn chỗ nào khác. Phần công trình phía ắc và phía nam không liền khối mà có thể tách rời theo hiện trạng s d ng.

Do đó, cấp sơ th m đã chấp nhận yêu cầu của chị Dịu, chia tài sản chung ằng hiện vật, giao chị Dịu s d ng phần đất phía ắc diện tích 66,5m2 trị giá 1.064.000.000đ và s hữu các công trình y dựng trên phần đất này gồm nhà lợp tôn trị giá 55.961.000đ; ếp trị giá 9.573.000đ; nhà vệ sinh trị giá 3.338.000đ, nhà tắm trị giá 2.759.000đ; dại tôn trị giá 1.474.000đ; tường rào trị giá 525.000đ. Tổng giá trị tài sản chị Dịu được chia ằng 1.137.630.000đ. Giao anh Khoa s d ng phần đất phía ắc diện tích 46m2 trị giá 736.000.000đ và s hữu các công trình y dựng trên phần đất này gồm lán lợp tôn trị giá 6.455.000đ, c a trị giá 5.000.000đ; tổng giá trị tài sản anh Khoa được chia ằng 747.455.000đ là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật.

Phía ị đơn và người ảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ị đơn không nhất trí việc Hội đồng định giá đã ác định giá trị quyền s d ng đất chung cho tất cả các loại đất mà không ác định theo từng loại đất, tuy nhiên việc Hội đồng định giá ác định giá trị chung cho các loại đất trên cơ s tính giá trị quyền s d ng đất theo th a, căn cứ giá chuyển nhượng tại địa phương cùng thời điểm; tại cấp sơ th m và quá trình giải quyết v án tại cấp phúc th m, ị đơn không có yêu cầu định giá lại, khiếu nại về giá. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ị đơn về việc em t ác định giá từng loại đất. Đối với yêu cầu của ị đơn về việc nhận giá trị ằng hiện vật và thanh toán giá trị cho chị Dịu là 1 tỷ đồng. X t thấy, quá trình giải quyết v án, chị Dịu, anh Khoa đều thừa nhận nguồn gốc tài sản là do vợ chồng cùng tạo lập và đề nghị chia giá trị ngang nhau, chị Dịu và con trai hiện nay không có chỗ nào khác, do đó yêu cầu của ị đơn không được HĐXX chấp nhận.

Về công nợ chung: Anh Khoa nhận trả cho chị Dịu số tiền 85.000.000 đồng chị Dịu đã thực hiện nghĩa v đối với Quỹ tín d ng nh n d n thị trấn Yên Định.

Về chi phí em t, th m định, định giá tài sản: Chị Dịu, anh Khoa được chia tài sản như nhau nên mỗi ên phải chịu ½ tổng chi phí tố t ng.

Từ căn cứ đó, cấp sơ th m đã chia tổng giá trị tài sản chị Dịu được nhận là 1.137.630.000đ (một tỷ một trăm a mươi ảy triệu sáu trăm a mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản anh Khoa được nhận là 747.455.000đ ( ảy trăm ốn ảy triệu ốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng). C n đối chia tài sản: Buộc chị Dịu phải thanh toán chênh lệch cho anh Khoa số tiền 105.087.500đ (một trăm linh năm triệu không trăm tám mươi ảy nghìn năm trăm đồng) là hoàn toàn có căn cứ pháp lý, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí d n sự phúc th m: Do kháng cáo của anh Nguyễn T n Kh không được chấp nhận nên anh Khoa phải nộp án phí d n sự phúc th m theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của ản án sơ th m không có kháng cáo - kháng nghị, Hội đồng phúc th m không em t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 5 Điều 308 BLTTDS, chấp nhận việc rút một phần yêu cầu kháng cáo của ị đơn anh Nguyễn T n Kh. Đình ch t phúc th m đối với yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn T n Kh về quan hệ hôn nh n và nuôi con chung.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Giữ nguyên Quyết định chia tài sản chung của chị Mai Thị Thúy D và anh Nguyễn T n Kh theo Bản án d n sự sơ th m số 257/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nh n d n huyện Hải Hậu, t nh Nam Định.

3. Án phí d n sự phúc th m: Anh Nguyễn T n Kh phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí phúc th m mà anh Khoa đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số 0002760 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi c c thi hành án D n sự huyện Hải Hậu, t nh Nam Định. Anh Nguyễn T n Kh đã nộp đủ tiền án phí d n sự phúc th m.

4. Các quyết định khác của ản án sơ th m không có kháng cáo - kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI Đ NG X T X PH C THẨM

Cỡ chữ