vanban.org

Bản án 09/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1, buộc bị đơn ông Trần Nguyên H và bà Hoàng Thị L phải trả cho ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1 số tiền 352.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1, buộc bị đơn ông Trần Nguyên H và bà Hoàng Thị L phải trả cho ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1 số tiền 352.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/DS-ST
Ngày 26-4-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh

Bà Hoàng Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 200/2023/TLST-DS, ngày 17 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 16/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T và bà Trần Thị T1– Đều vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K – Văn bản uỷ quyền ngày 09/6/2023 – Có mặt.

Địa chỉ: Số B đường V, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Trần Nguyên H và bà Hoàng Thị L – Đều vắng mặt lần II.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đại diện theo uỷ quyền của đơn ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1 là ông Nguyễn Văn K trình bày: Ngày 08/4/2020, ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1 có cho vợ chồng ông Trần Nguyên H, bà Hoàng Thị L vay số tiền 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng), thời hạn trả nợ là tháng 7/2020. Lãi suất thoả thuận miệng 20%/năm. Các bên có lập giấy vay tiền có chữ ký của ông H, bà L. Đến hạn, ông T, bà T1 đã nhiều lần yêu cầu ông H, bà L trả nợ nhưng ông H, bà L luôn trốn tránh chây ì không chịu trả. Do dó, ông T, bà T1 khởi kiện, yêu cầu ông H, bà L phải trả cho ông bà 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 08/6/2023 là 85.500.000 đồng (T2 mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng), tổng cộng là 355.500.000 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Nguyên H và bà Hoàng Thị L không lên làm việc theo giấy triệu tập của Toà án. Biên bản xác minh ngày 14/11/2023 tại Công an xã Đ thể hiện: Ông Trần Nguyên H và bà Hoàng Thị L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Hiện ông H, bà L ít có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không thông báo cho chính quyền địa phương biết. Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông H, bà L theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa lần thứ 2 mở ngày 26/4/2024 ông H, bà L vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên toà, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn phải trả tiền số tiền gốc là 270.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả của 270.000.000 đồng kể từ ngày 01/8/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 0,83%/tháng là 82.543.500 đồng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX vào nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vắng mặt, gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu thay đổi một phần nội dung khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 270.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 01/8/2020 đến ngày 26/4/2024 với lãi suất 0,83%/tháng là 82.543.500 đồng. Buộc bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Các tài liệu, chứng cứ gồm: Bản gốc giấy mượn tiền ngày 08/4/2020; căn cước công dân (bản sao y chứng thực), giấy xác nhận nơi cư trú.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1 khởi kiện yêu cầu ông Trần Nguyên H, bà Hoàng Thị L trả nợ và lãi suất phát sinh nên đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Bị đơn ông Trần Nguyên H, bà Hoàng Thị L có địa chỉ tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thời hiệu: Thời hạn trả nợ là tháng 7/2020, đến ngày 21/9/2023, ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1 mới khởi kiện tại Toà án là đã hết thời hiệu theo Điều 429 của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không yêu cầu áp dụng thời hiệu. Bị đơn vắng mặt, do đó căn cứ khoản 1 Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự, toà án không áp dụng thời hiệu đối với vụ án.

Về nội dung vụ án:

Đối với yêu cầu trả tiền gốc: Ông Trần Nguyên H và bà Hoàng Thị L có vay tiền của ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1. Điều này thể hiện qua 01 giấy vay tiền ngày 08/4/2020 có chữ ký của ông H, bà L. Các bên có thỏa thuận lãi suất, tuy nhiên không ghi vào giấy vay tiền, thời hạn thanh toán nợ là tháng 7/2020. Hợp đồng vay tiền ngày 08/4/2020 của các bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung không trái quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá thời hạn, ông H, bà L không trả tiền cho ông T, bà T1 là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Do đó, ông T, bà T1 khởi kiện yêu cầu ông H, bà L trả 270.000.000 đồng tiền gốc là phù hợp với Điều 463 của Bộ luật Dân sự nên HĐXX chấp nhận.

Đối với yêu cầu về lãi: Trong đơn khởi kiện, ông T, bà T1 yêu cầu tính lãi đối với số tiền gốc 270.000.000 đồng từ ngày viết giấy vay tiền 08/4/2020 đến ngày khởi kiện với lãi suất 1,6%/tháng. Tuy nhiên, tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền thay đổi một phần yêu cầu đối với yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu tính lãi chậm trả đối với số tiền gốc 270.000.000 đồng, lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 01/8/2020 (sau ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ) cho đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/4/2024) là 82.543.500 đồng. Căn cứ Điều 244 của BLTTDS, Xét việc thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên HĐXX chấp nhận.

Trong giấy vay tiền không thể hiện lãi suất, bị đơn vắng mặt nên HĐXX không làm rõ được lãi suất các bên thoả thuận là bao nhiêu. Do đó, HĐXX áp dụng Điều 357; khoản 2 Điều 468 của BLDS để tính lãi suất chậm trả đối với số tiền gốc 270.000.000đ, cụ thể như sau: 270.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 03 năm 25 ngày =82.543.500 đồng.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tại phiên toà là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí DSST: Ông Trần Nguyên H và bà Hoàng Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; Điều 33; Điều 35; Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016; Áp dụng Điều 463; Điều 468 Bộ luật dân sự;

Tuyên xử.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1, buộc bị đơn ông Trần Nguyên H và bà Hoàng Thị L phải trả cho ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1 số tiền 352.543.500 đồng (Ba trăm năm mươi hai triệu năm trăm bốn ba nghìn năm trăm đồng), trong đó tiền gốc là 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng), tiền lãi chậm trả tính từ ngày 01/8/2020 đến ngày 26/4/2024 với lãi suất 0,83%/tháng là 82.543.500 đồng (Tám mươi hai triệu năm trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Trần Nguyên H, bà Hoàng Thị L phải nộp 17.627.000 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí Dân sự Sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Lê Văn T, bà Trần Thị T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.887.500.000 đồng (Tám triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng) theo biên lai số 0001644, ngày 12/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ