vanban.org

Bản án 09/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Hà Văn L phạm tội:“ Vi phạm quy định về tham gia giao

thông đường bộ”. Xử phạt: Hà Văn L 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Lộc phạm tội Vi phạm quy định ve tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Hà Văn L phạm tội:“ Vi phạm quy định về tham gia giao
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ
Bản án số: 09/2023/HSST
Ngày: 19/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC - THANH HOÁ.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Dũng và bà Mai Thị Trang.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Văn Tư - Cán bộ Toà

án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh – Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện

Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TLST - HS ngày 16 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/HSST - QĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn L, sinh ngày 15/01/1991, tại: Bản H, xã P L, huyện Q

H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Bản H, xã P L, huyện Q H, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Hà Văn L1, sinh năm 1962 và bà Hà Thị H, sinh năm 1959; Vợ: Hà Thị M, sinh năm 1994 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo quyết định số: 08 ngày 16/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn Lộc: Ông Đường Xuân Anh – Trợ

giúp viên pháp lý của chi nhánh trợ giúp pháp lý số 5 – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn N - Sinh năm: 1961

Trú quán: Khu 3, thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa (đã

chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: + Bà Hoàng Thị H - Sinh

năm 1962 ( là vợ ông N);

Trú tại: Khu 3, thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

+ Anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 1991( Con trai ông N).

Trú tại: Số 703 chung cư ATHoomE, phường Đông Hải, thành phố Thanh

Hóa.

+ Anh Nguyễn Thiên S, sinh năm 1996( con trai ông N).

Trú tại: Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của anh P và anh S: Bà Hoàng Thị H. Có

mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc S1, sinh năm

1985.

Địa chỉ: Thôn T C, xã D L, huyện TS, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại

phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 23/10/2022, Hà Văn L, sinh ngày

15/01/1991, trú tại Bản H, xã P L, huyện Q H, Hóa, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 36H - 031.56 chở đất lưu thông theo hướng Vĩnh Lộc đi Hà Trung. Khi đi đến đoạn đường ngã tư giao nhau giữa đường Trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc với tỉnh lộ 522 thuộc địa phận thôn Bái Xuân, xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Hà Văn L quan sát thấy ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1961, trú tại thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đang điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 36FA-3477 lưu thông trên đường tỉnh lộ 522 theo hướng xã Vĩnh Hưng ra thị trấn Vĩnh Lộc. Lúc này, khoảng cách giữa hai phương tiện khoảng 30m. Hà Văn L đã ra tín hiệu bằng còi cảnh báo, đồng thời điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 36H-031.56 tăng tốc độ (từ 62km/h lên 68km/h) để vượt qua ngã tư thì va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 36FA-3477 do ông Nguyễn Văn N điều khiển (mặt trước bên phải đầu xe ô tô biển kiểm soát 36H-031.56 đâm va vào mặt ngoài sau đầu mút ngoài tay phanh bên phải, mặt ngoài tay nắm bên phải xe máy biển kiểm soát 36FA-3477 tại làn đường phía ngoài của phần đường theo hướng từ xã Vĩnh Long đi khu phố Đún Sơn, thị trấn Vĩnh Lộc và trong khu vực ngã tư giao nhau giữa đường trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc với tỉnh lộ 522 làn đường dành cho xe thô sơ ở phía ngoài cùng. Hậu quả làm ông Nguyễn Văn N chết trên đường đi cấp cứu, hai phương tiện bị hư hỏng.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 3810/GĐPY - PC09 kết luận: Các vết

rách da, bầm tím tại vùng: mặt, ngực, vai, hông, tay trái, hai chân; tụ máu tổ chức cơ vùng bên phải; gãy cung trước bên phải xương sườn số: 1;2;3;4;5;6;7 bên phải, gãy cung trước xương sườn số: 2;3 bên trái, gãy xương đòn bên phải, gãy thân xương ức; máu không đông lẫn máu đông tại khoang ngực và ổ bụng; dập, rách, tụ máu phổi phải; vỡ gan. Nguyên nhân chết là đa chấn thương.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường xác định như sau:

Hiện trường nơi xảy ra vụ việc được xác định tại ngã tư giao nhau giữa

đường Trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc với tỉnh lộ 522 thuộc thôn Bái Xuân, xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Vị trí xảy ra vụ việc được xác định tại phần đường bên phải đường Trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc hướng xã Vĩnh Long đi khu phố Đún Sơn. Đường trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc được chia làm hai chiều xe chạy riêng biệt, được phân cách bởi dải phân cách cứng. Mỗi chiều có ba làn xe chạy, trong đó hai làn dành cho xe cơ giới rộng 6,9m, một làn dành cho xe thô sơ ở ngoài cùng rộng 3m. Tại mép lề đường bên phải hướng Vĩnh Long đi khu phố Đún Sơn trên đường Trung tâm thị trấn trước vị trí ngã tư giao nhau đặt hai biển báo lần lượt là biển 207a "giao nhau với đường không ưu tiên" và biển "chỉ quay xe". Tại lề đường bên trái hướng Vĩnh Long đi Khu phố Đún Sơn trên đường Trung tâm thị trấn trước ngã tư giao nhau đặt hai biển báo lần lượt là biển 207a "giao nhau với đường không ưu tiên" và biển "chỉ quay xe". Tại lề đường bên phải tỉnh lộ 522 hướng thị trấn Vĩnh Lộc đi xã Vĩnh Hưng trước ngã tư giao nhau lần lượt đặt hai biển báo là 207b "giao nhau với đường không ưu tiên" và biển 208 "giao nhau với đường ưu tiên". Tại lề đường bên phải tỉnh lộ 522 hướng đi xã Vĩnh Hưng đi thị trấn Vĩnh Lộc trước ngã tư giao nhau lần lượt đặt hai biển báo là biển 208 "giao nhau với đường ưu tiên" và biển 207c "giao nhau với đường không ưu tiên".

Dấu vết để lại hiện trường (bl:39-40): Lấy mép đường bên phải đường

Trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc hướng Vĩnh Long đi khu phố Đún Sơn làm mép chuẩn và cột viễn thông 8AV951/19 ( ngay trước cây xăng Hòa Hưng) làm mốc. Mốc cách mép chuẩn là 10,8m như sau:

- Vị trí số 1: dấu vết tỳ trượt trên mặt đường, màu đen, vết có chiều rộng

0,2m dài 25m. Đầu vết cách mép chuẩn 1m và cách mốc 18,4m, cuối vết nằm trên mép chuẩn. Vết có chiều từ Bắc về Nam.

- Vị trí số 2: Cách vị trí số 1 là: 0,9m có dấu vết vùng cà trượt mặt đường

rộng 1m dài 29m. Đầu vùng vết cách mép chuẩn là 0,4m - 1,4m, cuối vết nằm trên lề đường bên phải hướng Vĩnh Long đi khu phố Đún Sơn cách mép chuẩn là 0,4m - 0,9m.

- Vị trí số 3: Cách vị trí số 1 là: 1m ngay tại mép chuẩn phát hiện vùng

mảnh vỡ gương, nhựa màu trắng, vùng có kích thước 28,4m x 3,2m.

- Vị trí số 4: Vùng mảnh vỡ với chất màu trắng bám dính chất nghi sơn,

kích thước 0,3m x 0,2m, vị trí gần nhất cách vị trí số 1 là: 16,5m, cách mép chuẩn 1,4m.

- Vị trí số 5: Vùng chất màu đen (dạng dầu) kích thước 0,3m x 0,21m ngay

cuối vị trí số 2 và cách mép chuẩn 0,9m.

- Vị trí số 6: Vùng chất dịch màu đỏ (nghi máu) gần sát lề đường bên phải,

vùng có kích thước 0,5m x 0,2m. Vị trí gần nhất cách mép chuẩn 5,2m và cách điểm cuối số 2 là: 10,9m.

Dấu vết để lại trên phương tiện như sau:

* Dấu vết trên xe ô tô tải BKS 36H - 031.56

- Mặt trước bên phải đầu xe có vết trượt làm mòn xước, nứt vỡ nhựa, bong

tróc lớp ma-tít, mòn xước kim loại kích thước 14,5cm x 11,5cm, các vết có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải, các vết bám dính chất màu đen (dạng sơn).

- Mặt trước ba-đờ-xốc trước, mặt trước biển số trước có vết tỳ trượt, cà

trượt làm nứt vỡ nhựa, mòn xước, cong vênh kim loại kích thước 70cm x 4cm, các vết có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải, các vết cao cách mặt đất 65,5cm

- 70,5cm.

- Mặt phần trước chắn bùn trước bên phải, mặt và má ngoài lốp trước bên

phải có các vết cà trượt làm nứt vỡ nhựa, mòn cao su, mòn xước, móp méo kim loại, các vết có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới (tại chắn bùn), từ ngoài vào tâm (lốp).

- Mặt trước bên phải đầu xe có các vết tỳ trượt làm sạch bụi đất, nứt vỡ

nhựa, mặt các vết in các vân (dạng vân vải). Vị trí cao nhất của các vết cách mặt đất 134cm.

* Dấu vết trên xe gắn máy 36FA-3477

- Hiện tại, đầu mút bên ngoài phanh bên phải gãy rời khỏi xe.

- Mặt ngoài sau đầu mút ngoài tay phanh bên phải mặt ngoài tay nắm bên

phải có các vết tỳ trượt làm mòn sơn màu đen, mòn xước kim loại kích thước 16cm x 3,2cm, các vết có chiều từ phải qua trái, từ trước về sau, mặt các vết tại vị trí tay nắm bám dính chất màu nâu đục (dạng lớp Ma-típ). Các vết cao cách mặt đất 85-95cm.

- Mặt ngoài bên phải yên xe, mặt ngoài bên phải giá đèo hàng sau có các

vết cà trượt làm mòn nhựa kích thước 54cm x 4cm, các vết có chiều từ phải qua trái, từ trước về sau, vết cao cách mặt đất 66,5cm - 73cm.

- Mặt dưới ngoài phanh chân, mặt ngoài bên phải lốc máy, mặt dưới ngoài

ống pô và mặt dưới ngoài giá để chân trước bên phải có các vết cà trượt, tỳ trượt làm mòn rách cao su, mòn xước, cong vênh kim loại, các vết có chiều từ dưới lên trên, từ phải qua trái. Vị trí cao nhất của các vết cách mặt đất 37cm.

- Mặt trước ngoài tay nắm bên trái, mặt trên ngoài giá để chân trước bên

trái và chân ông nghiêng, mặt ngoài bên trái giá đèo hàng có các vết cà trượt làm mòn rách cao su, mòn xước cong vênh kim loại, mặt các vết bám dính đất cát và chất màu trắng đục ( dạng bột đá).

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lộc, bị can Hà Văn L đã thành

khẩn khai báo về vụ tai nạn giao thông nói trên. Theo đó, khi điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36H-031.56 đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường Trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc với tỉnh lộ 522 mặc dù trước đó đã quan sát thấy ông Nguyễn Văn N đang điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 36FA-3477 đi trên đường tỉnh lộ 522 hướng từ xã Vĩnh Hưng ra thị trấn Vĩnh Lộc cắt qua đường Trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc nhưng Hà Văn Lộc đã không nhường đường, không giảm tốc độ mà còn tăng tốc độ dẫn đến đâm va vào xe gắn máy biển kiểm soát 36FA-3477 do ông Nguyên điều khiển. Hậu quả làm ông Nguyên chết do đa chấn thương. Lời khai của Hà Văn L phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra.

Đối với ông Nguyễn Văn N điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 36FA-

3477 trên đường tỉnh lộ 522 theo hướng xã Vĩnh Hưng đi thị trấn Vĩnh Lộc, khi đi đến đoạn đường giao nhau với đường ưu tiên (đường Trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc là đường ưu tiên) đã không chú ý quan sát không nhường đường cho các phương tiện lưu thông trên đường ưu tiên dẫn đến xảy ra tai nạn với xe ô tô biển kiểm soát 36H-031.56 do Hà Văn L điều khiển. Hành vi điều khiển xe gắn máy tham gia giao thông của ông Nguyễn Văn Nguyên đã vi phạm quy tắc tham gia giao thông đường bộ. Khoản 3, Điều 24 Luật giao thông đường bộ quy định "tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc đường nhánh và đường chính thì xe từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới". Tuy nhiên, hành vi, vi phạm quy tắc tham gia giao thông của ông Nguyễn Văn Nguyên gây thiệt hại cho chính bản thân mình (Hậu quả ông Nguyễn Văn N chết). Do đó, không xem xét trách nhiệm của ông Nguyễn Văn N.

Đối với anh Nguyễn Ngọc S1 chủ sở hữu chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát

36H-031.56 đã thuê Hà Văn L làm lái xe cho mình. Hai bên đã thỏa thuận thống nhất anh Nguyễn Ngọc Sơn giao xe ô tô biển kiểm soát 36H-031.56 cho Hà Văn L quản lý và vận chuyển vật liệu theo yêu cầu của anh Nguyễn Văn S1. Mọi vấn đề phát sinh trong quá trình tham gia giao thông Hà Văn Lộc phải chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó, anh Nguyễn Ngọc S1 đưa xe ô tô biển kiểm soát 36H-031.56 vào lưu thông đảm bảo các quy định của pháp luật. Vì vậy, không xem xét trách nhiệm của anh Nguyễn Ngọc S1.

Về vấn đề dân sự: anh Nguyễn Ngọc Sơn và Hà Văn L đã thỏa thuận,

thống nhất hỗ trợ đền bù cho gia đình ông Nguyễn Văn N số tiền là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng). Gia đình ông N đã thống nhất chấp nhận mức bồi thường và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Hà Văn L.Việc thỏa thuận giữa Nguyễn Ngọc S1 và Hà Văn L cả hai không yêu cầu giải quyết. Về thiệt hại của hai phương tiện là chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36H-031.56 và xe gắn máy biển kiểm soát 36FA-3477 chủ phương tiện không yêu cầu bồi thường vì vậy không xem xét giải quyết.

Đối với vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) chiếc xe ô tô biển kiểm soát

36H - 031.56, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Ngọc Sơn, sinh năm 1985, trú tại xã Dân Lực, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lộc đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho anh Nguyễn Ngọc S1; đối với 01 (một) xe gắn máy biển kiểm soát 36FA-3477 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn Nguyên. Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lộc đã trả lại cho đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn N là bà Hoàng Thị H (vợ ông N). Đối với giấy phép lái xe số 310168884791, mang tên Hà Văn L, hạng C, có giá trị đến 29/12/2026 chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 08/KSĐT ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Hà Văn L về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu giữ nguyên quan điểm truy

tố và đề nghị mức hình phạt đối với Hà Văn L như sau: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 điều 51; Khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 BLHS xử phạt bị cáo từ 15( mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu)tháng.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về xử lý vật

chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo:

Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Tại phiên

tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vì vậy đề nghị HĐXX xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất trong mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo là người dân tộc thiểu số và bị cáo có đơn xin miễn án phí HSST nên đề nghị HĐXX miễn tiền án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 12 nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo đồng ý với ý kiến trình bày của người bào chữa, không có ý kiến tranh

luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng

sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định Tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện

Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc,tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hà Văn L đã khai nhận

toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của bị hại và tang vật thu giữ được đủ sơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 23/10/2022, Hà Văn Lộc điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 36H - 031.56 chở đất lưu thông theo hướng Vĩnh Lộc đi Hà Trung. Khi đi đến đoạn đường ngã tư giao nhau giữa đường Trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc với tỉnh lộ 522 thuộc địa phận thôn Bái Xuân, xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa mặc dù phía trước có biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên và quan sát thấy ông Nguyễn Văn N điều khiển xe gắn máy sang đường nhưng L không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn mà còn tăng tốc độ dẫn đến gây ra tai nạn. Hậu quả làm ông Nguyễn Văn N chết trên đường đi cấp cứu, hai phương tiện bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 BLHS. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của vụ án:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp

nghiêm trọng, đã làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của Hà Văn L đã vi phạm vào Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định về “tốc độ và khoảng cách giữa các xe”, vi phạm quy định về quy tắc tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 3, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải, quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ "Người điều khiển phương tiên tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức". Hơn nữa hiện nay do tình trạng vi phạm an toàn trật tự giao thông đường bộ trên địa bàn xảy ra ngày càng gia tăng gây tâm lý lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời mang tính giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng

trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị

cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, gia đình bị hại có đơn đề nghị xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Người bị hại cũng có một phần lỗi. Bị cáo đã tham gia đóng góp một phần tài sản vào quỹ vì người nghèo tại địa phương. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS là phù hợp.

[5] Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý. Tại phiên tòa bị cáo thực sự có thái độ ăn năn hối cải. Đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 điều 65 BLHS.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đầy

đủ số tiền bồi thường trách nhiệm dân sự nên không yêu cầu bị cáo và anh Nguyễn Ngọc Sơn bồi thường gì thêm vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36H -

031.56, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Ngọc S1, sinh năm 1985, trú tại xã Dân Lực, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lộc đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho anh Nguyễn Ngọc S1; đối với 01 (một) xe gắn máy biển kiểm soát 36FA-3477 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn Nguyễn. Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lộc đã trả lại cho đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Nguyên là bà Hoàng Thị H (vợ ông N). Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT là phù hợp với quy định của pháp luật nên hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 giấy phép lái xe số 310168884791, mang tên Hà Văn L, hạng

C, có giá trị đến 29/12/2026 chuyển theo hồ sơ vụ án. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án do đó trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[8] Về án phí: Căn cứ vào giấy xác nhận hộ nghèo, cận nghèo số 272/GXN

- HCN ngày 29/12/2022 của UBND xã Phú Lệ, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa xác định bị cáo thuộc đối tượng là hộ cận nghèo năm 2023, bị cáo là người dân tộc thiểu số và bị cáo có đơn xin miễn án phí HSST, vì vậy miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2

Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Hà Văn L phạm tội:“ Vi phạm quy định về tham gia giao

thông đường bộ”.

- Xử phạt: Hà Văn L 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian

thử thách 30 (ba mươi) tháng. Thời hạn thi hành án tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/4/2023).

Giao Hà Văn L cho UBND xã P L, huyện Q H, tỉnh Thanh Hóa giám sát,

giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù

của bản án đã cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87 Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho Hà Văn L 01 (một) giấy phép lái xe số No 310168884791, hạng

C, có giá trị đến 29/12/2026 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 29/12/2021 mang tên Hà Văn L, sinh ngày 15/01/1991( đang lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án).

- Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ

luật Tố tụng hình sự, Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm đối với Hà Văn Lộc.

Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ