- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông V T và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------- Bản án số: 09/2023/HSST Ngày: 11/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Bích Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Xuyên
2. Bà Nguyễn Thị Hải Yến
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 273/2022/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
1. NÔNG VĂN T, sinh năm 1991
Nơi cư trú: Thôn D, xã D, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Duy Đ (đã chết), con bà Chu Thị M; Vợ: Triệu Thị Â. Con: có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 12/10/2022 đến nay.
Có mặt tại phiên tòa.
2. NÔNG VĂN T, sinh năm 1985
Nơi cư trú: Thôn D, xã D, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Hải L (đã chết), con bà Đàm Thị Đ; Vợ: Trần Thị N; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 12/10/2022 đến nay.
Có mặt tại phiên tòa
Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn T, Nông Văn T:
Ông Vũ Văn D - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội, Chi nhánh số 5.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Khoảng 07 giờ ngày 12/10/2022, Nông Văn T., sinh năm 1991 rủ Nông Văn TH., sinh năm 1985 đi mua ma túy loại heroine để về cùng nhau sử dụng. TH. đồng ý và sử dụng xe máy BKS 11Z1-9537 chở T. từ khu vực Phố Nỷ, Trung Giã, Sóc Sơn lên khu vực Y, Thái Nguyên để mua ma túy. Đến nơi, TH. dừng xe ở rìa đường, T. đi bộ vào một nhà dân không quen biết rồi T. đưa qua khe cửa số tiền 100.000 đồng thì nhận lại được 01 gói giấy chứa ma túy loại heroine. Mua được ma túy, T. cầm ở trong lòng bàn tay trái đi ra chỗ TH. đang đứng chờ, nói cho TH. biết đã mua được ma tuý rồi bảo TH. chở về phòng trọ của TH. để cùng sử dụng ma túy. Khi đến đoạn đường thuộc khu vực thôn Bình An, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn thì bị Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra, tạm giữ của T. 01 gói giấy chứa ma túy trong lòng bàn tay trái, tạm giữ của TH. 01 xe máy BKS 11Z1 - 9537.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Nông Văn T. và Nông Văn TH. đều dương tính với ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 7235/KLGĐ-PC09 ngày 19/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại heroine, khối lượng 0.143 gam.
Về nguồn gốc số tiền 100.000 đồng mua ma túy, T. khai là tiền do lao động mà có.
Về việc tạm giữ, xử lý vật chứng: Đối với xe máy BKS 11Z1-9537, xác định chủ sở hữu là bà Đặng Thị Đ, sinh 1959 (mẹ của Nông Văn TH.). Bà Đ cho vợ chồng TH. mượn để sử dụng, việc TH. sử dụng xe máy trên để đi mua ma túy bà Đ không biết. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn đã trả lại chiếc xe máy trên cho bà Đ.
Đối với người bán ma túy cho T. tại khu vực xã X, thị xã Y, Thái Nguyên. Do T. không quen biết, lần đầu gặp mặt, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
[2]. Tại bản cáo trạng số 258/CT - VKS ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố Nông Văn T., Nông Văn TH. về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận các bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Xử phạt Nông Văn T. từ 15 đến 18 tháng tù.
+ Xử phạt Nông Văn TH. từ 12 đến 15 tháng tù
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý thu giữ của Nông Văn T..
Do các bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
[3]. Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa cho bị cáo, cơ bản nhất trí với đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn. Tuy nhiên do các bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn sau khi phân tích đối với tích chất mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhân thân của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm và mức đề xuất đối với bị cáo.
[4]. Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không kêu oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 12/10/2022, tại thôn A, xã G, Sóc Sơn, Hà Nội, Nông Văn T. có hành vi Tàng trữ 01 gói ma tuý Heroine trong lòng bà tay trái, khối lượng 0,143 gram, mục đích để sử dụng. Nông Văn TH. phạm tội với vai trò đồng phạm, cùng thống nhất với T., chở T. đi mua ma tuý về để cả hai cùng sử dụng.
Như vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định:
“Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c, Heroine…..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực T. xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, hướng thần có tác hại rất lớn đối với con người và đời sống cộng đồng, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS, làm suy thoái nền tảng đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Các bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng, nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt nghiêm khắc để xử phạt nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Vì vậy đối với các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân các bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
. Người bán ma túy cho T. tại khu vực xã X, thị xã Y, Thái Nguyên. Do T. không quen biết, lần đầu gặp mặt, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với xe máy BKS 11Z1-9537, xác định chủ sở hữu là bà Đặng Thị Đ, sinh 1959 (mẹ của bị can Nông Văn TH.). Bà Đ cho vợ chồng TH. mượn để sử dụng, việc TH. sử dụng xe máy trên để đi mua ma túy bà Đ không biết. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn đã trả lại chiếc xe máy trên cho bà Đ là có căn cứ và phù hợp quy định định của pháp luật.
. Xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma tuý (thu giữ của các bị cáo) cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra, Công an huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt: Nông Văn T. 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2022.
Xử phạt: Nông Văn TH. 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2022.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma tuý Heroine, theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 03/6/2021 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Sóc Sơn; - Công an huyện Sóc Sơn; - THADS huyện Sóc Sơn; - Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Bích Nguyệt Trần Thị Bích Nguyệt |