- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ph - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 11 – 4 – 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Công Đạt.
2. Ông Y mưng Niê.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà: Ông Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2023, Hội trường A, Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/HS-ST, ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST–HS, ngày 28 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Văn Ph, sinh năm 1975, tại tỉnh H; Nơi đăng ký HKTT: Xóm 6, thôn V, xã H, huyện Kh, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Không ổn định; nghề nghiệp: Thợ rèn; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Vợ là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; có 01 con sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 29/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, đến ngày 13/01/2015 đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích; Ngày 29/6/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, đến ngày 03/8/2020 đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Krông Búk - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn Ph là người nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng nên vào khoảng 06 giờ ngày 18/12/2022 Ph điều khiển xe mô tô biển số 81C1- 086.14 đi từ tỉnh Gia Lai về huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk để tìm mua ma túy. Khi đi đến địa bàn thuộc xã Chứ Kbô thì Ph gặp một người đàn ông đeo khẩu trang, không rõ nhân thân, lai lịch đang đứng ở ven đường Hồ Chí Minh, lúc này Ph dừng xe và đến hỏi mua ma túy của đàn ông này thì người đàn ông này đồng ý bán. Ph đưa cho người đàn ông này số tiền 1.000.000 đồng, còn người đàn ông này đưa cho Ph cầm một gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy thì Ph cầm giấy bạc màu trắng đựng ma túy trong lòng bàn tay phải, rồi điều khiển xe mô tô đi về tìm nơi sử dụng ma túy, khi Ph rẽ vào khu vực nghĩa địa thuộc xã Ch để sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Krông Búk chặn xe kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ trong lòng bàn tay phải của Ph đang cầm một gói giấy bạc màu trắng, bên trong gói giấy bạc có 02 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất rắn màu trắng và đã được niêm phong theo quy định.
Đồ vật, tài liệu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk đã thu giữ bắt người phạm tội quả tang gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa 02 gói giấy bạc màu trắng được niêm phong; 01 xe mô tổ biển số 81C1-086.14 nhãn hiệu YAMAHA, số máy 5C64-914276, số khung RLCS5C640CY914268.
Tại kết luận giám định số: 27/KL-KTHS ngày 23 tháng 12 năm 2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất rắn màu trắng chứa trong 02 gói giấy bạc màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,4438 gam, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,3518gam.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS, ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk đã truy tố bị cáo Phạm Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk sau khi phân tích, chứng minh các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn Ph 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 18/12/2022.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3518 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 phong bì vụ Phạm Văn Ph có các chữ ký của Nguyễn Văn Thắng, Lê Khắc Nguyên và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 81C1-086.14 của bà Lê Thị H, thường trú tại thôn 5, xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai là chủ sở hữu, bà H có cho Phạm Văn Ph mượn để làm phương tiện đi lại. Việc Ph dùng xe mô tô này đi mua ma tuý thì bà H không biết nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an huyện Krông Búk đã trả lại xe mô tô trên cho bà Lê Thị H là có căn cứ.
Đối với người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo Phượng, Cơ quan Điều tra Công an huyện Krông Búk đã điều tra, xã minh nhưng không xác định được.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Ph khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân nên khoảng 06 giờ ngày 18/12/2022, tại khu vực thuộc xã Ch, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Ph mua ma tuý, có khối lượng 0,4438gam, loại Heroine của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đang đứng ở ven đường Hồ Chí Minh với số tiền 1.000.000 đồng, sau đó bị cáo Ph đến khu vực nghĩa địa xã Chứ Kbô để sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Krông Búk bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy nói trên.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c)……. Hêrôin ……có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…..”
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống. Bị cáo biết được rằng chất ma túy là chất gây nghiện, dược liệu hướng thần nằm trong danh mục quản lý độc quyền của Nhà nước. Nhà nước nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng… trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, hành vi phạm tội là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác như cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản… Mặc dù bị cáo biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng muốn có ma túy để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét về nhân thân của bị cáo, ngày 29/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, đến ngày 13/01/2015 đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích; Ngày 29/6/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, đến ngày 03/8/2020 đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích. Lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo phải tự cải tạo, phấn đấu, rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3518 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 phong bì vụ Phạm Văn Ph có các chữ ký của Nguyễn Văn Thắng, Lê Khắc Nguyên và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 81C1-086.14 của bà Lê Thị H, thường trú tại thôn 5, xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai là chủ sở hữu, có cho Phạm Văn Ph mượn để làm phương tiện đi lại. Việc Phượng dùng xe mô tô này đi mua ma tuý thì bà H không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Búk đã trả lại xe mô trên cho bà Lê Thị H là có căn cứ.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm văn Ph 01 ( một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 18/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3518 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 phong bì vụ Phạm Văn Ph có các chữ ký của Nguyễn Văn Thắng, Lê Khắc Nguyên và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 81C1-086.14 của bà Lê Thị H, thường trú tại thôn 5, xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai là chủ sở hữu, cho Phạm Văn Ph mượn để làm phương tiện đi lại. Việc Phượng dùng xe mô tô này đi mua ma tuý thì bà H không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Búk đã trả lại xe mô trên cho bà Lê Thị H là có căn cứ.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Văn Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Công an huyện Krông Búk; - VKSND huyện Krông Búk; - Chi cục THA dân sự huyện Krông Búk; - Bị cáo; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thái Văn Hải |