- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Khánh - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội:“Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 232 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:09/2023/HSST. Ngày: 07/3/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K -TỈNH G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Đình Toàn.
2. Bà Vương Thị Hội.
- Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện K, tỉnh G.
- Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện K tham gia phiên toà: Ông Vũ Hữu Huyền - Kiểm sát viên (KSV).
Ngày 07/3/2022, tại trụ sở TAND huyện K, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2023/HS-ST ngày 31/01/2023 đối với bị cáo:
Trần Văn K, sinh năm 1983 tại: Nghi Xuân, Hà Tĩnh; nơi thường trú: Thôn Mỹ Lộc, xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; tiền án, tiền sự: Không; con ông Trần Văn C và bà Hồ Thị M, vợ là Đậu Thị M và 02 con; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty Trách Nệm hữu hạn Một thành viên (TNHH MTV) Lâm nghiệp Krông Pa;
Địa chỉ: Xã Krong, huyện K, tỉnh G.
Đại Dện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thành V-Phó Giám đốc Công ty (vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Anh Chu Thanh H, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Thôn 4, xã Đ, huyện K, tỉnh G.
2.Anh Đặng Trung H, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện K, tỉnh G.
3.Anh Triệu Văn T, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Thôn 4, xã S, huyện K, tỉnh G.
4.Anh Nguyễn K Lâm, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Thôn Tú Thủy 1, xã T, thị xã A, tỉnh G.
5. Anh Đặng Hữu P, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện K, tỉnh G.
6. Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Xã Đăk Rong, huyện K, tỉnh G.
7. Anh Đinh Văn B, sinh năm 1989;
8. Anh Đinh M, sinh năm 1999;
9.Anh Đinh Thanh T, sinh năm 2001;
10.Anh Đinh T, sinh năm 1995;
11.Anh Đinh N, sinh năm 1997;
Cùng địa chỉ: Làng Sơ L, xã K, huyện K, tỉnh G.
12.Anh Trần Văn Q, sinh năm 1982;
13. Anh Trần S, sinh năm 1996;
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn K, huyện K, tỉnh G.
14. Anh Đinh Thái H, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Xã Tú An, thị xã A, tỉnh G.
15. Anh Lương Thái C, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn K, huyện K, tỉnh G.
(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt).
Ngƣời làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1986 (vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt);
2. Anh Lê Phú T, sinh năm 1986 (vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt);
3. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa ;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 13/11/2020, Văn Kim S điện thoại liên lạc và thuê Triệu Văn T, Đặng Trung H, Đặng Hữu P, Chu Thanh H, Nguyễn K, Đinh Thái H, Đinh Văn B, Đinh Thanh T, Đinh M, Nguyễn Anh T, Trần Văn K và hai đối Tợng tên Mường, L (chưa rõ nhân thân, lại lịch) lên rừng, tại lô 1, khoảnh 2, tiểu khu 90 lâm phần do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa (Công ty Krông Pa) quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Krong, huyện K, tỉnh G để khai thác gỗ trái phép.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Sơn cùng các đối Tợng trên mang theo 03 máy cưa xăng, đồ đạc đi lên rừng và thấy có một cây gỗ hương đã chết khô bị bật gốc ngã đổ tự Nn (gọi là cây số 3) và một cây gỗ hương đã bị bật gốc hoàn toàn ngã đổ tự Nn, còn Tơi (gọi là cây số 4, theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 18/11/2020). Theo hướng dẫn của Sơn, các đối Tợng trên đã thực hiện việc cắt lóng rồi xẻ hộp cây gỗ hương số 3. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 14/11/2020, Sơn dẫn T, H, B và H đi lên chỗ cây gỗ hương số 4 để cắt lóng, những người còn lại tiếp tục xẻ gỗ ở cây gỗ hương số 3. Trong lúc khai thác hai cây gỗ hương nói trên thì Sơn nói T và M về trước để buổi sáng hôm sau thuê người đi kéo, chuyển gỗ đã xẻ ở cây số 3 đi. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 14/11/2020, nhóm của S xẻ xong gỗ ở cây gỗ hương số 3 và đang cắt lóng dở ở cây gỗ hương số 4 thì ra về. Đến sáng ngày 14/11/2020, Sơn liên lạc với T và M nói gọi người đi kéo gỗ đã xẻ xuống dòng suối Nia về hướng cầu sắt làng Vir, xã Krong để chuyển đi. T đã gọi Đinh Văn L và Đinh D, M gọi Đinh L, Đinh N và Đinh N đi kéo gỗ với tiền công thỏa thuận là 500.000 đồng/ngày.
Theo hướng dẫn của Sơn thì Mường đã cùng T, Mõt, Ly, D, L, N và Ngờ đi lên rừng và kéo gỗ đã xẻ hộp ở cây số 3 xuống suối Nia. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Sơn tiếp tục cùng K, TH, H, T, B, Thực, L, T, N và L đi lên rừng tiếp tục cắt lóng xẻ cây số 4. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Sơn nói cả nhóm kéo gỗ ở suối Nia xuống cầu làng Vir, xã Krong còn Sơn tiếp tục tham gia với nhóm cắt lóng, xẻ hộp ở cây số 4. Đến khoảng 00 giờ ngày 15/11/2020, Sơn nói nhóm B, T, Thực ở lại tiếp tục xẻ hộp cây số 4; Sơn cùng K, TH, H, T, N, L và L đi đến cắt lóng cây gỗ hương mà nhóm Sơn đã cắt hạ vào tháng 9/2020, gọi là cây số 5 theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 18/11/2020). Khi các đối Tợng kéo gỗ đến cầu làng Vir, xã Krong thì Sơn đi đến cùng cả nhóm kéo và bốc gỗ lên hai xe ô tô do Trần Sĩ và Lương Thái Chúc điều khiển. Sau đó, Sĩ và Chúc điều khiển mỗi người một xe ô tô chở gỗ đến đường liên xã gần xóm Đất Đỏ, làng Đăk Bok, xã Krong để chuyển đi nơi khác. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày 15/11/2020, Sơn tiếp tục điện cho T và Mõt gọi người đi kéo gỗ đã xẻ ở cây gỗ hương số 4 xuống cầu làng Vir. T đã gọi D và Ly, Mõt đã gọi L, N và Ngờ đi kéo gỗ xuống suối Nia, số gỗ này cũng được bốc lên xe và vận chuyển đi.
Để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện, tối cùng ngày 15/11/2020, theo yêu cầu của Sơn thì H, Phước, B, N và T mang theo cưa xăng của B đi lên dọn cành, bìa ở cây gỗ hương số 3; TH và T đi lên dọn cành, bìa ở cây gỗ hương số 4. Ngày 16/11/2020, Sơn tiếp tục thuê các đối Tợng lên xẻ tiếp cây gỗ hương số 5 cho đến sáng ngày 16/11/2020 thì xẻ xong, T và Mõt gọi người lên tiếp tục kéo gỗ xẻ chuyển đi. Đến khoảng 18 giờ ngày 16/11/2020, Sơn nói K, TH, Lâm, T, Hùng, L, Mường và L đi lên rừng để xẻ gỗ của cây gỗ hương số 5. Một lúc sau, Thực dẫn Đinh Thô đi lên rừng tham gia làm cây gỗ hương này; B, Phước và H thì được Sơn nói đi dọn, đốt cành, bìa ở cây gỗ hương số 3 đã cắt, xẻ. K, TH, Lâm, T, Hùng, L, Mường, L và Thô làm gỗ đến khoảng 02 giờ sáng ngày 17/11/2020 thì xẻ xong gỗ của cây gỗ hương số 5. Khoảng 07 giờ ngày 17/11/2020, Sơn liên lạc với T và Mõt nói tiếp tục gọi người đi kéo gỗ từ cây gỗ hương số 5 xuống cầu làng Vir; Mõt đã gọi L, N, Ngờ, Đinh Khi˘nh, Đinh Khi˘p, Đinh A Lơ˘i, Đinh Glăp, Đinh Coi và Đinh Hới, T gọi Đinh Trai cùng đi kéo gỗ xẻ từ cây gỗ hương số 5 xuống lòng suối Nia. Sau đó, Sơn nói Thực, Hùng, Mường đi theo nhóm kéo gỗ. Đến khoảng 12 giờ ngày 17/11/2020, khi các đối Tợng đang vận chuyển gỗ trái phép thì bị lực lượng bảo vệ rừng phát hiện Nn đã bỏ trốn, để gỗ lại hiện trường.
Ngày 18/11/2020, Hạt Kiểm lâm huyện K đã phối hợp các ngành chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: Tại lô 1, khoảnh 2 và lô 5, khoảnh 1, tiểu khu 90 lâm phần do Công ty Krông Pa quản lý thuộc địa giới hành chính xã Krong, huyện K, tỉnh G, thuộc loại rừng sản xuất, trạng thái rừng thường xanh trung bình. Tại hiện trường có 04 cây gỗ hương bị khai thác trái phép (trong đó, có 02 cây bị bật gốc hoàn toàn bị ngã đổ tự Nn từ trước, 02 cây bị cắt đổ) và 01 cây gỗ bằng lăng bị đổ lây do việc khai thác cây gỗ hương số 01 gây ra với tổng khối lượng gỗ tròn thiệt hại của 05 cây gỗ bị khai thác trái phép là 19,452m3 và 0,38 ster củi, cụ thể như sau:
- Cây số 1 chủng loại gỗ hương nhóm I – thông thường, thuộc lô 5, khoảnh 1, tiểu khu 90 (L5, K1, TK90) có khối lượng gỗ tròn thiệt hại là 2,208m3.
- Cây số 2 chủng loại gỗ bằng lăng nhóm V thuộc L5, K1, TK90 (bị đổ lây) có khối lượng gỗ tròn thiệt hại là 0,343m3.
- Cây số 3 chủng loại gỗ hương nhóm I – thông thường, thuộc L1, K2, TK90 bị cắt hạ khai thác trái phép có khối lượng gỗ tròn thiệt hại là 6,904m3.
- Cây số 4 chủng loại gỗ hương nhóm I – thông thường, thuộc L1, K2, TK90 bị bật gốc ngã đổ, bị khai thác trái phép có khối lượng gỗ tròn thiệt hại là 3,172m3 và 0,38 ster củi.
- Cây số 5 chủng loại gỗ hương nhóm I – thông thường, thuộc L1, K2, TK90 bị bật gốc ngã đổ, đã bị khai thác trái phép có khối lượng gỗ tròn thiệt hại là 6,825m3.
Khối lượng gỗ hương xẻ hộp đã thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường vụ án tại hai địa điểm: Tại vị trí suối Nia gồm 16 hộp có khối lượng gỗ xẻ là 2,061m3; tại vị trí cây gỗ hương số 01 gồm 08 hộp có khối lượng gỗ xẻ là 0,465m3; thu giữ 01 lóng gỗ tròn tại cây gỗ hương số 01, có khối lượng gỗ tròn là 1,271m3.
*Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐG ngày 05/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản theo vụ việc trong tố tụng hình sự huyện K xác định:
- Giá trị thiệt hại của cây số 01, chủng loại gỗ hương tại thời điểm phát hiện tháng 11/2020 khối lượng gỗ tròn 2,208m3 là: 79.803.500 đồng.
- Giá trị thiệt hại của cây số 02, chủng loại gỗ bằng lăng tại thời điểm phát hiện tháng 11/2020 khối lượng gỗ tròn 0,343m3 là: 343.000 đồng.
- Giá trị thiệt hại của cây số 03, chủng loại gỗ hương tại thời điểm phát hiện tháng 11/2020 khối lượng gỗ tròn 6,904m3, trị giá là: 263.509.000 đồng.
- Giá trị thiệt hại của cây số 04, chủng loại gỗ hương tại thời điểm phát hiện tháng 11/2020 khối lượng gỗ tròn 3,172m3 và củi là: 0,38 ster là: 105.551.850 đồng.
- Giá trị thiệt hại của cây số 05, chủng loại gỗ hương tại thời điểm phát hiện tháng 11/2020 khối lượng gỗ tròn 6,825m3 là: 277.614.000 đồng.
*Giá trị phải bồi thường đối với rừng tự Nn đối với:
- Cây số 01, chủng loại gỗ hương tại thời điểm phát hiện tháng 11/2020 (có khối lượng gỗ tròn thiệt hại là: 2,208m3) là: 239.410.500 đồng.
- Cây số 02, chủng loại gỗ bằng lăng khối lượng gỗ tròn thiệt hại 0,343m3 là: 1.029.000 đồng.
- Cây số 03, chủng loại gỗ hương tại thời điểm phát hiện tháng 11/2020 khối lượng gỗ tròn thiệt hại 6,904m3, trị giá là: 790.527.000 đồng.
- Cây gỗ hương số 04 và cây gỗ hương số 05 do bị bật gốc hoàn toàn, ngã đỗ tự Nn Nn không xác định.
- Giá trị của số gỗ xẻ còn lại tại hiện trường đã thu giữ được:
Giá trị của số gỗ xẻ còn lại tại suối Nia đã thu giữ tại thời điểm tháng 11/2020 là: 122.163.000 đồng.
Giá trị của số gỗ xẻ còn lại tại cây gỗ số 01 đã thu giữ tại thời điểm tháng 11/2020 là: 14.880.000 đồng.
Ngày 19/8/2021, TAND huyện K đã đưa các bị cáo Triệu Văn Thực, Chu Thanh Hùng, Đặng Trung H, Nguyễn K Lâm, Đặng Hữu Phước, Nguyễn Anh T, Đinh Văn B, Đinh Văn Mõt, Đinh Thanh T, Đinh T và Đinh N ra xét xử về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b, khoản 1, Điều 232 Bộ luật hình sự, đồng thời xử lý xong toàn bộ vật chứng và phần bồi thường dân sự trong vụ án này (Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2021/HS-ST).
Ngày 07/10/2022, TAND huyện K tiếp tục đưa các bị cáo Văn Kim Sơn và Đinh Thái TH ra xét xử về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự và xét xử bị cáo Lương Thái Chúc về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự (Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2022/HSST).
Ngày 29/11/2022, VKSND huyện K đã ban hành Cáo trạng số: 38/CT-VKS truy tố đối với Trần Sĩ về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra xác định Trần Văn K dùng 01 chiếc điện thoại D động, loại bàn phím màu đen để liên lạc với Văn Kim Sơn và dùng 01 đèn pin đội đầu màu cam để thực hiện việc khai thác gỗ. Sau khi vụ án xảy ra, K đã làm thất lạc Nn Cơ quan điều tra đã ghi nhận trong biên bản làm việc và không xử lý là có căn cứ.
Tại Bản cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 30/01/2023, VKSND huyện K đã truy tố Trần Văn K về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại Dện VKSND huyện K, tỉnh G vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Bản Cáo trạng đã Nu và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”; đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 232, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38 và 58 của BLHS để xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định Nn đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách Nệm dân sự và xử lý vật chứng, đã được xử lý xong trong Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2021/HSST ngày 19/8/2021 của TAND huyện K, tỉnh G Nn không đề nghị xem xét.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm (HSST) theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã Nu, không tranh luận gì với đại Dện Viện kiểm sát, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện K, KSV trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại Dện theo uỷ quyền của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn K đã khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan CSĐT Công an huyện K và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó có đủ cơ sở để xác định rằng:
Do được Văn Kim Sơn thuê Nn trong khoảng thời gian từ ngày 13/11/2020 đến ngày 17/11/2020, Trần Văn K đã cùng Văn Kim Sơn, Chu Thanh Hùng, Đặng Trung H, Triệu Văn Thực, Nguyễn K Lâm, Đặng Hữu Phước, Đinh Thái TH, Nguyễn Anh T, Đinh Văn B, Đinh Mõt, Đinh Thanh T, Đinh N, Đinh T, Đinh L, Lương Thái Chúc, Trần Sỹ và hai đối Tợng tên Mường, L (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đã khai thác trái phép 03 cây gỗ hương tại lô 1 khoảnh 2 tiểu khu 90 là rừng sản xuất do Công ty Krông Pa quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Kong, huyện K tỉnh G, gây thiệt hại về lâm sản với tổng khối lượng là 16,901m3 gỗ tròn và 0,38 ster củi.
Như vậy, hành vi Nu trên của Trần Văn K đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 232 BLHS như truy tố của VKSND huyện K là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm, gây thiệt hại và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng của đất nước, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và gây thiệt hại về kinh tế cho Công ty Krông Pa. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách Nệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, bị cáo biết được việc vào rừng khai thác gỗ trái phép bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý; trong vụ án này, bị cáo phạm tội với vai trò là đồng phạm thực hành. Vì vậy, HĐXX thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và nâng cao hiệu quả phòng ngừa chung.
Tuy Nn, xét bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt và có Nều tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự, đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội một thời gian, bị cáo đã ra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội; gia đình bị cáo thuộc Dện có công với cách mạng và có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có 2 con còn nhỏ đang tuổi ăn học, bố bị cáo là thương binh với tỉ lệ thương tật là 23%, được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo giữ vai trò thứ yếu trong vụ án, chỉ tham gia kéo gỗ thuê theo sự phân công của Văn Kim Sơn, chưa được hưởng lợi gì từ việc phạm tội; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Vì vậy, HĐXX cũng đã xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt áp dụng đối với bị cáo và thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt ở mức khởi điểm mà Viện kiểm sát đã đề nghị là thỏa đáng và Tơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với những đồng phạm cùng với Trần Văn K, gồm: Văn Kim Sơn, Chu Thanh Hùng, Đặng Trung H, Triệu Văn Thực, Nguyễn K Lâm, Đặng Hữu Phước, Đinh Thái TH, Nguyễn Anh T, Đinh Văn B, Đinh Mõt, Đinh Thanh T, Đinh N, Đinh T, Đinh L, Lương Thái Chúc và Trần Sỹ đã được xét xử, giải quyết xong trong các vụ án trước. Vì vậy, những người này tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
Liên quan trong vụ án, có 02 đối Tợng tên Mường và L được Văn Kim Sơn thuê khai thác gỗ trái phép, đối Tợng tên Long mua gỗ trái phép của Sơn, hiện các đối Tợng này đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan CSĐT Công an huyện K tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Vì vậy, HĐXX không xem xét xử lý trong vụ án này.
Liên quan trong vụ án còn có Đinh Thô, Đinh Văn Ly, Đinh D, Đinh L, Đinh N, Đinh Ngờ, Đinh Khi˘nh, Đinh Khi˘p, Đinh A Lơ˘i, Đinh Glăp, Đinh Coi, Đinh Hới, Đinh Trai là những người tham gia vận chuyển gỗ thuê cho Văn Kim Sơn. Quá trình điều tra, xác định những người này thực hiện hành vi khai thác, vận chuyển gỗ chưa đủ định lượng, chưa có tiền án tiền sự về hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản Nn Cơ quan CSĐT Công an huyện K không đề nghị xử lý về hình sự, chuyển hồ sơ cho Hạt Kiểm lâm huyện K xử lý vi phạm hành chính là đúng pháp luật Nn HĐXX không xem xét đến nữa.
Về trách Nệm dân sự: Do đã được xử lý xong trong các vụ án trước, các bị cáo đồng phạm với Trần Văn K bị tuyên nghĩa vụ bồi thường không có yêu cầu K phải hoàn trả Nn HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu giữa Trần Văn K và các bị cáo đồng phạm có tranh chấp với nhau về trách Nệm bồi thường thiệt hại thì có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác.
Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý xong trong các vụ án trước Nn HĐXX không xem xét đến nữa.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn K phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội:“Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 232; các Điều 38, 58; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS;
Xử phạt bị cáo Trần Văn K 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 09/12/2022).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/3/2023), bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo đề nghị TAND tỉnh G xét xử phúc thẩm. Thời hạn và quyền kháng cáo Nu trên của người đại Dện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được tính từ ngày người đó nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh. -VKSND huyện. -Cơ quan CSĐT công an huyện. -Hạt Kiểm lâm huyện. -Bị cáo. -Bị hại. -Người có QL,NVLQ. -Chi cục THADS huyện. (Khi án có HLPL). -Lưu HSVA,VPTA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Nguyên |