vanban.org

Bản án 09/2023/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 06/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Văn B và Lê Văn N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt của hai bị cáo.

Lê Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án. Lê Văn N 14 (Mười bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn B, Lê Văn N - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Văn B và Lê Văn N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt của hai bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HSPT
Ngày: 06/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Thẩm phán:

Bà Lê Thị Thủy

Bà Lê Thu Hương

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Chung – Kiểm sát viên

Ngày 06/02/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 343/2022/HSPT ngày 07/11/2022 đối với bị cáo Lê Văn B, Lê Văn N do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HSST ngày 30/9/2022 của TAND huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa.

Bị cáo kháng cáo:

1. Lê Văn B; sinh ngày 07 tháng 02 năm 1985; tại huyện X, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn Q, xã S, huyện X, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Lê Văn Cẩm (Chết); con bà: Hoàng Thị Nghĩa; có vợ là Lại Thị Liên và có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 14/3/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 6 tháng 12 ngày tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 03/2019/HSST, bị cáo được trả tự do tại phiên tòa, ngày 11/3/2022 bị cáo chấp hành xong án phí HSST và hình phạt bổ sung; Ngày 04/4/2018, bị Công an huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.000.000đ về hành vi không có giấy phép lái xe; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn ấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/3/2022. Tại ngoại có mặt.

2. Lê Văn N; sinh ngày 10 tháng 10 năm 1969; tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn Q, xã S, huyện X, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Lê Văn Ngoạn; con bà: Lê Thị Thoa (Chết); có vợ là Nguyễn Thị Khánh và có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 21/01/2020, bị Công an xã Lương Sơn, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/3/2022 đến nay. Tại ngoại có mặt.

* Các bị cáo đã rút kháng cáo, không kháng cáo, kháng nghị: Nguyễn Văn T, Phạm Văn K, Lê Hữu H, Lê Đức Ch, Lê Đức Đ, Bùi Thị Th, Trần Hợp Tr, Lê Đức V, Bùi Quang Tr.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 17/3/2022, Nguyễn Văn T trú tại thôn Hợp Thành, xã Phùng Giáo, huyện Ngọc Lặc gọi điện thoại cho Lê Văn B trú tại Thôn Q, xã S, huyện X để hỏi về việc mua bán gỗ keo, trong lúc nói chuyện thì T và B rủ nhau đánh bạc, hình thức đánh xóc đĩa, T nói sẽ chuẩn bị địa điểm tại xã Phùng Giáo, huyện Ngọc Lặc và tìm thêm người đến để đánh bạc. Sau đó T gọi điện thoại rủ Lê Đức Ch, trú tại thôn Đồng Đang, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc; Trần Hợp Tr, trú tại thôn Lương Thịnh, xã Lương Sơn, huyện Thường Xuân; Lê Hữu H, trú tại thôn Thịnh Mỹ 1, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân; Lê Đức Đ, trú tại thôn Liên Cơ, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc; Phạm Văn K, trú tại thôn Thọ Phú, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc; Bùi Quang Tr, trú tại thôn Nguyệt Tiến, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc để tham gia đánh bạc. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì B, Trường, Hải, Chiến, Khanh đến gặp T tại thôn Hợp Thành, xã Phùng Giáo, huyện Ngọc Lặc thì được T dẫn vào khu đồi luồng thuộc địa phận thôn Hợp Thành, xã Phùng Giáo, huyện Ngọc Lặc để đánh bạc, T về nhà lấy chiếu nhựa, bộ bát đĩa sứ, cắt quân vị từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long đến để cho những người trên đánh bạc hình thức xóc đĩa; khi bắt đầu đánh bạc thì Phạm Văn K không có tiền mang theo nên xin được cầm bát đĩa xóc cái cho các con bạc đánh. Hình thức đánh là sử dụng một chiếc đĩa bằng sứ, một chiếc bát bằng sứ và bốn quân vị hình tròn, được cắt từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Mỗi quân vị có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Bỏ bốn quân vị vào giữa chiếc đĩa sau đó dùng bát úp lại rồi xóc, sau đó đặt đĩa, bát xuống chiếu để cho các con bạc chọn đặt cửa chẵn hoặc lẻ. Sau khi các con bạc đã đặt tiền cược xong vào các cửa đã chọn thì người xóc cái mở bát để phân định thắng, thua. Nếu chẵn sẽ có hai quân vị cùng màu và hai quân vị khác màu hoặc cả bốn quân vị cùng màu, nếu là lẻ sẽ có ba quân vị cùng màu và một quân vị khác màu và hình thức đánh bằng bảng vị người làm bảng vị ngồi cùng chiếu bạc, nếu các con bạc tham gia đánh bạc bằng bảng vị lấy kết quả từ việc mở bát xóc cái để làm căn cứ tính tiền thắng thua trực tiếp với người làm bảng vị. Bảng vị được làm từ bìa giấy cứng đặt trước mặt người làm bảng vị, trên bảng vị có kẻ 05 ô, gồm: 01 ô bốn trắng, 01 ô bốn đen, 01 ô ba trắng một đen, 01 ô ba đen một trắng, 01 ô hai trắng hai đen. Tỉ lệ ăn thua bằng tiền quy định như sau: Nếu đặt vào ô 4 trắng, 4 đen thì ăn gấp 7 - 8 lần; nếu đặt vào ô 3 trắng 1 đen, 3 đen 1 trắng thì ăn gấp 3 - 3,5 lần; nếu đặt vào ô 2 trắng, 2 đen thì ăn gấp 2 - 2,5 lần. Sau đó Lê Đức Đ, trú tại thôn Liên Cơ, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc; Lê Đức V, trú tại thôn Thọ Liên, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc; Bùi Thị Th, trú tại thôn Thọ Phú, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc; Lê Văn N, trú tại Thôn Q, xã S, huyện X; Bùi Quang Tr, trú tại thôn Nguyệt Tiến, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc và một người chưa xác định được đến tham gia đánh bạc. Quy định những người tham gia đánh bạc đều phải đóng tiền hồ, tiền chiếu cho Nguyễn Văn T từ 500.000đ đến 2.000.000đ. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày, thì bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá lập biên bản bắt quả tang Bùi Quang Tr, Lê Đức Ch, Lê Hữu H, Bùi Thị Th, còn một số đối tượng tham gia đánh bạc đã bỏ chạy khỏi chiếu bạc, Cơ quan điều tra thu giữ tại chiếu bạc gồm: số tiền 52.500.000đ, 01 bảng vị làm bằng vỏ thùng sữa, 04 quân vị hình tròn cắt từ vỏ bao thuốc lá, 01 bộ bát, đĩa bằng sứ, 01 chiếc chiếu bằng nhựa. Đến ngày 30/3/2022, Lê Đức V, Lê Văn B, Trần Hợp Tr; ngày 31/3/2022, Lê Văn N; ngày 26/4/2022, Lê Đức Đ; ngày 27/4/2022 Nguyễn Văn T đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa và Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm, đồng thời Nguyễn Văn T giao nộp số tiền hồ, tiền chiếu là 6.500.000đ, Trường giao nộp số tiền dùng đánh bạc là 1.500.000đ.

Tại Kết luận giám định số 1379/KL-KTHS ngày 13/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận toàn bộ số tiền 52.500.000đ (Năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) niêm phong gửi giám định là tiền thật, do Ngân hàng nhà nước Việt N phát hành.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HSST ngày 30/9/2022 của TAND huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B, Lê Văn N phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt:

- Lê Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án.

- Lê Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử các bị cáo khác về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, tuyên hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

* Ngày 06 - 12/10/2022, bị cáo Lê Văn B và Lê Văn N kháng cáo với nội dung: Xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo. Bị cáo N kháng cáo thêm nội dung xin miễn hình phạt bổ sung.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo B và N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX phúc thẩm: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo B và N, sửa Bản án sơ thẩm đối với hai bị cáo. Giảm cho B từ 06 – 09 tháng tù, giảm cho N từ 08 – 10 tháng tù và miễn hình phạt bổ sung cho N.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo B, N kháng cáo trong hạn luật định nên chấp nhận để xem xét vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:

Các bị cáo Lê Văn B, Lê Văn N và một số đối tượng khác vào trưa ngày 17/3/2022, đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức “Xóc đĩa” ăn tiền tại khu đồi luồng thuộc địa phận thôn Hợp Thành, xã Phùng Giáo, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá với tổng số tiền dùng đánh bạc là 60.500.000đ (Sáu mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trên địa bàn. Nhân thân của B và N đều có những hành vi vi phạm bị các cơ quan pháp luật xử lý, nên việc Tòa cấp sơ thẩm xử cách lý các bị cáo để giáo dục các bị cáo và răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là cần thiết. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo.

Tuy nhiên, xét các bị cáo ở giai đoạn sơ thẩm không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Đầu thú, thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Lê Văn B và Lê Văn N đã cung cấp thông tin cho cơ quan Công an phát hiện tội phạm và được Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xác nhận, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Lê Văn B có thân nhân là người có công với nước, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tích cực ủng hộ trong công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19, được xem xét là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Như vậy, các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo B có thêm 03 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo N có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

Ở giai đoạn phúc thẩm: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo B đã tự nguyện nộp 15.000.000đ tiền phạt bổ sung và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và nộp ủng hộ quỹ phòng chống Covid 1.000.000đ, chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh khó khăn của bị cáo đề nghị các cơ quan pháp luật tạo điều kiện giúp đỡ bị cáo B. Bị cáo N tham gia ủng hộ xây dựng “Mái ấm tình thương” số tiền 4.000.000đ, hoàn cảnh gia đình khó khăn có giấy chứng nhận là hộ nghèo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới cho các bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo B và N có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo và đề nghị của đại diện VKS giảm hình phạt cho các bị cáo là phù hợp.

Xét nội dung kháng cáo xin miễn hình phạt bổ sung của bị cáo N: Do tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình giấy chứng nhận là hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo B và N không phải chịu án phí HSPT.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 355; Điểm c Khoản 1 Điều 357 BLTTHS.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Văn B và Lê Văn N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt của hai bị cáo.

2. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 BLHS.

Xử phạt:

- Lê Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án.

- Lê Văn N 14 (Mười bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Văn N.

3. Án phí: Bị cáo B và N không phải nộp án phí HSPT.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ