- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn T tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vương Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 15 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên t òa: Bà Vũ Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh;
Ông Đường Ngọc Đại.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường Phúc Thắng, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST- HS ngày 09 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vương Văn Th, sinh ngày 03/4/2001 tại tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn 3, M, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn Đ và bà Lự Thị P (đều đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2022 đến nay hiện đang bị tam giam tại nhà tạm giữ công an thành phố Phúc Yên (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phan Thị Kim L, Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
* Người chứng kiến:
+ Ông Đinh Văn L, sinh năm 1966 (vắng mặt).
+ Bà Dương Thị P, sinh năm 1966 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/10/2022, Vương Văn Th, sinh năm 2001, Hộ khẩu thường trú (HKTT): xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai và người bạn nghiện mới quen tự giới thiệu tên là N (không biết, họ tên đệm, địa chỉ cụ thể) đang ngồi chơi tại khu vực phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên Th và N thống nhất với nhau mỗi người góp 100.000đ để đi mua ma túy cùng nhau sử dụng. Th đưa cho N số tiền 100.000đ, N cầm tiền rồi lấy xe moto nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, không rõ biển kiểm soát của N chở Th đi mua ma túy. Khi N điều khiển xe moto đi đến khu vực thuộc địa bàn phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì dừng lại. Th ngồi ngoài xe chờ, còn N một mình đi bộ vào bên trong ngõ mua 01 gói ma túy Heroin với giá 200.000đ, sau đó N quay lại đưa cho Th 01 gói ma túy Heroin vừa mua được rồi cả hai về thành phố Phúc Yên để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực thôn Yên Điềm, Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc thì N dừng xe và bảo Th đứng đợi để N đi có việc, tý quay lại. Khi Th đang đứng chờ N thì bị tổ công tác Công an xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Th 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng, niêm phong trong phong bì kí hiệu A1.
Ngày 21/10/2022 , phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra bản kết luận giám định số 3169/KLGĐ, kết luận: “Chất bột, cục màu trắng của mẫu kí hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2165g (Không phẩy hai một sáu năm gam, không kể bao bì) loại heroine”.
Cơ quan giám định đã hoàn lại sau giám định là A1= 0,1127 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ”.
Ngày 24/10/2022, phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra bản kết luận giám định số 3191, kết luận: “Tìm thấy Morphine trong mẫu chất lỏng màu vàng nhạt ghi là nước tiểu của Vương Văn Th, sinh ngày 03/4/2001; Hộ khẩu thường trú: thôn M, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai, được niêm phong trong chai nhựa gửi giám định”.
Mẫu còn lại sau giám định gồm: 01 chai nhựa chứa 0,00 ml mẫu cùng toàn bộ bao gói sau giám định, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông tên N, ngày 17/10/2022 đã đi cùng Th đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Quá trình điều tra đến nay không xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 11/CT - VKSPY ngày 09 tháng 01 năm 2023 , Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Vương Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Vương Văn Th đã khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Vương Văn Th; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vương Văn Th từ 01(Một) năm 6 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm 9 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/10/2022, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định A1= 0,1127 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói niêm phong sau giám định, 01 chai nhựa chứa 0,00ml mẫu cùng bao gói sau giám định.
Về án phí : Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vương Văn Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Vương Văn Th: Thống nhất với Đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như khung hình phạt theo nội dung bản cáo trạng, đồng thời phân tích về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất. Về hình phạt bổ sung, bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập riêng, kinh tế khó khăn. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tại Cơ quan cảnh sát điều tra đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo và tài liệu chứng cứ đã thu thập được.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của kiểm sát viên, lời trình bày của người bào chữa cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Vương Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17 tháng 10 năm 2022, lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ được, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 17/10/2022, tại khu vực thôn Yên Điềm, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tổ công tác công an xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện bắt quả tang Vương Văn Th -SN 2001, HKTT: xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai có hành vi tàng trữ trái phép 0,2165g ma túy Heroine. Th khai nhận với mục đích để sử dụng.
Hành vi nêu trên của Vương Văn Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cụ thể điểm c, khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”
….
c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 11/CT - VKSPY ngày 09 tháng 01 năm 2023 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an địa phương. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử công khai là cần Thết và phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung, cũng như giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng vụ án: A1= 0,1127 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói niêm phong, 01 chai nhựa chứa 0,00ml mẫu cùng bao gói sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông tên N, ngày 17/10/2022 đã đi cùng Th đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Quá trình điều tra đến nay không xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vương Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Vương Văn Th 01(Một) năm 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/10/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định A1= 0,1127 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói niêm phong sau giám định, 01 chai nhựa chứa 0,00ml mẫu cùng bao gói sau giám định do cơ quan giám định hoàn lại (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại Chi cục Th hành án dân sự thành phố Phúc Yên).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Vương Văn Th phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND thành phố Phúc Yên; - Công an thành phố Phúc Yên; - Th hành án dân sự thành phố Phúc Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp tỉnh Lào Cai; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vũ Thị Hiền |