- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 25/04/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thân Văn Hàm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà: Lù Thi Kim Duyên.
Bà: Lưu Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: ông Thiều Tất Lơ - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Mường Lay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đỗ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2023/TLST-HS, ngày 23/03/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HS ngày 12/4/2023 đối với bị cáo:
1. Phan Thanh T (tên gọi khác: không); Sinh ngày 24/3/1994.
Nguyên quán: Phú Cường, Ba Vì, Hà Nội
Nơi thường trú: Xóm 1- PT, xã PC, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phan Thanh H - đã chết; con bà: Trần Thị Th - Sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/12/2022 cho đến 08/01/2023 thì thay đổi biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
- Anh Hoàng Ngọc T1 - Sinh năm 1980; Nơi thường trú: Tổ 14, phường TP, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 31/12/2022 tại Km 90 + 400 Quốc lộ 12 thuộc tổ 3, phường SĐ, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên. Tổ công tác Kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an thị xã Mường Lay tiến hành kiểm tra xe khách biển kiểm soát 27B-000.26 di chuyển từ hướng thị xã Mường Lay đi tỉnh Lai Châu. Qua kiểm tra phát hiện bắt quả tang đối tượng Phan Thanh T, sinh năm 1994, thường trú: Xóm 1- PT, xã PC, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đang cất giấu 1,9 gam thuốc phiện được bọc bằng một túi nilon màu trắng có kẹp nhựa ở miệng túi cất trong túi xách màu đen. Phan Thanh T khai nhận đó là thuốc phiện bị cáo cất giấu với mục đích để nấu cao.
Tại cơ quan điều tra Phan Thanh T khai nhận như sau: Bị cáo là nhân viên tiếp thị thuốc biệt dược nên thường đi đến các bệnh viện để tiếp thị thuốc. Vào khoảng tháng 8/2022 bị cáo tiếp thị thuốc tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu, tại đây bị cáo T thường xuyên vào phòng của anh Hoàng Ngọc T1 là bác sỹ khoa hồi sức cấp cứu để nói chuyện công việc. Vào khoảng 9 giờ một ngày cuối tháng 8/2022 bị cáo vào phòng anh T1 nói chuyện, lúc này chỉ có bị cáo và anh T1 trong phòng. Bị cáo hỏi anh T1 “có thuốc đen không cho em xin một ít để em về nấu cao”. Anh T1 trả lời “ anh không có, để anh hỏi xem nếu có anh xin cho một ít”. Sau buổi nói chuyện đó khoảng 3, 4 ngày sau bị cáo đang đi bộ từ trong bệnh viện ra cổng bệnh viện thì nghe tiếng gọi “T ơi”, bị cáo quay lại thì thấy anh T1 đi xe máy từ trong bệnh viện đi ra. Khi đến gần chỗ bị cáo đứng thì anh T1 đưa cho bị cáo 01 gói nilon màu trắng có kẹp nhựa ở miệng túi, bên trong có chứa các cục nhỏ thuốc phiện, bị cáo cầm gói thuốc phiện cho vào túi xách. Sau khi xin được thuốc phiện bi cáo vẫn tiếp tục đi giới thiệu thuốc ở các bệnh viện, trung tâm y tế các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên.
Vào khoảng 9 giờ ngày 31/12/2023 bị cáo cầm theo túi xách bên trong có gói thuốc phiện đi xe khách biển kiểm soát 27B-000.26 từ bến xe khách Điện Biên Phủ đi tỉnh Lai Châu để giới thiệu thuốc, bị cáo ngồi một mình ở hàng ghế thứ 2 sau ghế lái, túi xách để bên cạnh người. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến Cầu Hang Tôm km 90 +400 quốc lộ 12 thuộc địa phân tổ 3, phường SĐ, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên thì Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ túi xách trong có thuốc phiện của bị cáo.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng của cơ quan Công an thị xã Mường Lay ngày 31/12/2022. Xác định số thuốc phiện thu giữ của bị cáo Phan Thanh T có khối lượng 1,9 gam (một phẩy chín gam). Cơ quan điều tra trích 0,52 gam gửi giám định, mẫu gửi giám định không hoàn lại.
Tại bản kết luận giám định số 97/KL-PC09 ngày 03/01/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu vật chứng gửi giám định, thu giữ của bị cáo Phan Thanh T là thuốc phiện. Không hoàn lại mẫu vật sau giám định..
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSML ngày 22/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Phan Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS.
Xử phạt bị cáo Phan Thanh T từ 13 đến15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 đến 30 tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm.
Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS vì bị cáo có không có khả năng thi hành. Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân về tội danh cũng như hình phạt; Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên Tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án có đầy đủ lời khai nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi phạm tội:
Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa: Bị cáo Phan Thanh T để có thuốc phiện để nấu cao nên đã hỏi xin thuốc phiện của anh Hoàng Ngọc T1 bác sỹ khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu được một gói thuốc phiện có khối lượng 1,9 gam. Sau khi xin đươc thuốc phiện bị cáo T cất giấu trong túi xách và vẫn đi tiếp thị thuốc tân dược ở các bệnh viện và trung tâm y tế các tỉnh Lai Châu, Lào Cai và Điện Biên. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 31/12/2022 tại Km 90 + 400 Quốc lộ 12 thuộc địa phận tổ 3, phường SĐ thì bị Công an thị xã Mường Lay phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số thuốc phiện để trong túi xách của bị cáo.
Lời khai của bị cáo Phan Thanh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Hành vi xin thuốc phiện với mục đích để nấu cao của bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật. Do vậy HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS.
Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, tiếp tay cho các loại tội phạm khác làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo Phan Thanh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo có nhân thân tốt, đây là lần đầu bị cáo vi phạm pháp luật. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trước khi bị bắt trong vụ án này bị cáo tích cực hợp tác với Cơ quan Công an trong việc phát hiện tội phạm (BL87) có xác nhận của phòng cảnh sát điều tra tội phạm ma túy tỉnh Điện Biên. HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Hành vi của bị cáo cần tuyên xử với mức án tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, dăn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong thời gian bị cáo tại ngoại không vi phạm pháp luật, mục đích xin thuốc phiện của bị cáo là đem về nấu cao, sau khi xin được thuốc phiện bị cáo để trong túi xách và mang đi các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, bị cáo không cố tình cất giấu che đậy hành vi tàng trữ thuốc phiện của mình. Do vậy không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luât hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, dăn đe bị cáo, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật của nước ta.
Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản (BL 83) của cơ quan cảnh sát điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, gia đình bị cáo không có tài sản có giá trị; Bị cáo đi tiếp thị thuốc cho công ty phụ thuộc vào doanh thu bán hàng thu nhập cũng không ổn định khoảng 4.000.000đ/ 1 tháng; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
. Về vật chứng vụ án: Số thuốc phiện thu giữ của bị cáo là 1,9 gam Cơ quan điều tra đã trích 0,52 gam gửi giám định, sau khi có kết quả giám định Cơ quan giám định không hoàn lại mẫu sau giám định. Số thuốc phiện còn lại là 1,38 gam HĐXX tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 túi xách màu đen kích thước (10x30x40) cm nhãn hiệu “Thủ đô vàng” đã qua sử dụng. HĐXX xét thấy túi xách cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo là chiếc túi cất giấu thuốc phiện mà bị cáo tàng trữ, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác của vụ án:
Trong vụ án còn có anh Hoàng Ngọc T1 theo lời khai của bị cáo là người cho bị cáo thuốc phiện. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra để đấu tranh, nhưng chưa có căn cứ chứng minh T1 là người đưa thuốc phiện cho bị cáo. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt đối với bị cáo Phan Thanh T từ 13 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 26 tháng đến 30 tháng. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí HSST; Xử lý vật chứng và các vấn đề khác là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luât hình sự; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS.
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án ngày 25/4/2023.
Giao bị cáo Phan Thanh T cho UBND xã PC, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trường hợp người đươc hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 14/2023/HSST-LCĐKNCT, ngày 07/4/2023 của Toà án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên
[3]. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1, Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106 của Bộ Luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 1,38 gam thuốc phiện vật chứng còn lại sau giám định.
- Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu đen kích thước (10x30x40)cm nhãn hiệu “Thủ đô vàng”.
(Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mường Lay. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay và Chi Cục thi hành án Dân sự thị xã Mường Lay ngày 22/3/2023).
[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/4/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA - TA Tỉnh ĐB; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND thị xã Mường Lay; - Đội điều tra Công an thị xã Mường Lay; - Cơ quan THAHS CA thị xã Mường Lay; - Chi cục THA dân sự thị xã Mường Lay; - PC 10 (THAHS) CA tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; người có quyền lợi liên quan; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ VA,KT. Các Hội thẩm nhân dân: 1 2 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thân Văn Hàm Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa |