- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 quần dài; 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; trả lại bị cáo 01 ví, 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T; 01 giấy ph…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 17-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Ngọc Anh
Bà Nguyễn Thị Mai
Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thúy An - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân quận Lê Chân và điểm cầu thành phần tại Trại giam Công an thành phố Hải Phòng vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 365/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 30/27/38 A, phường L, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Bùi Thị N; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 6/9/2022, tạm giam ngày 12/9/2022; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 00 phút ngày 03/9/2022, Phạm Văn T điều khiển xe máy đi qua đường nhánh cạnh khu chung cư Hoàng Huy đường Đồng Quốc Bình, Ngô Quyền, Hải Phòng thì nhặt được 01 túi nilon màu trắng, mép viền màu đỏ bên trong có 03 viên nén màu cam giống ma túy thuốc lắc ở dưới lòng đường sát vỉa hè. T cất túi nilon chứa 03 viên nén này vào trong quần đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe đi xin việc làm. Sau khi về nhà, T lấy 01 viên nén ra sử dụng và xác định là thuốc lắc, 02 viên còn lại T cho vào túi quần phía trước bên trái chiếc quần đang mặc. Đến khoàng 21 giờ ngày 04/9/2022, T mặc chiếc quần có cất giấu hai viên nén nhặt được đến nhà Nguyễn Trọng H, sinh năm 1987, cư trú tại: Số 21/67/30 T, phường C, quận L, H, xin ngủ nhờ. Đến nơi, T cởi chiếc quần treo lên giá treo quần áo trên gác xép và ngủ tại đó. Đến khoảng 11 giờ ngày 05/9/2022, cơ quan Công an vào nhà H kiểm tra, khám xét, thu giữ số thuốc lắc của T như đã nêu trên. Ngoài ra, T khai, khi đến nhà H, T không nói cho H biết việc bản thân có mang theo ma túy. Số ma túy trên, T cất giấu với mục đích để bản thân sử dụng, không có ý định cho ai khác sử dụng cùng.
Tại thời điểm khám xét, lực lượng chức năng phát hiện thu giữ của H: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh không lắp sim thẻ trên sàn gác xép; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen; 01 ví da bên trong có 01 thẻ căn cước công dân; 01 thẻ ngân hàng MB mang tên Nguyễn Trọng H. T hành kiểm tra, phát hiện tại túi quần phía trước bên trái quần dài màu đen treo trên giá treo quần áo ở gác xép 01 túi nilon mép viền màu đỏ chứa 02 viên nén màu cam, nghi là ma túy. T khai chiếc quần trên của T, 02 viên nén là thuốc lắc. Thu giữ của T: 01 ví giả da bên trong có 01 căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe mang tên Phạm Văn T; số tiền 1.100.000 đồng; 01 điện thoại di động màu đen mặt sau có chữ Realme đã qua sử dụng; 01 sim Viettel; 01 quần dài màu đen.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trọng H khai: Khoảng 21 giờ ngày 04/9/2022, Phạm Văn T (là bạn xã hội với H), có đi xe ôm đến nhà H ngủ nhờ, H đồng ý và bảo T lên gác xép nghỉ. Khi T về đến nhà H, T không nói cho H biết về việc T có mang ma túy đến nhà H, H không biết việc T có ma túy cất giấu trong túi quần. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/9/2022 Cơ quan Công an vào nhà H kiểm tra, khám xét, thu giữ số thuốc lắc của T như đã nêu trên.
Tại biên bản xét nghiệm ma túy trong nước tiểu bằng test thử, Phạm Văn T dương tính với MDMA và Ketamine; Nguyễn Trọng H dương tính với Ketamine.
Tại Bản kết luận giám định số 443 ngày 08/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 02 viên nén hình khối, màu cam gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8 gam, là loại MDMA.
Tại bản cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo các quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao bì sau giám định, 01 quần dài màu đen; trả lại bị cáo: 01 ví, 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T, 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm văn T; 01 điện thoại di động màu đen mặt sau có chữ Realme đã qua sử dụng; 01 sim Viettel và số tiền 1.100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của T.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình, Hội đồng xét xử làm rõ: Vào hồi 11 giờ 30 phút, ngày 05/9/2022 tại Số 21/67/30 Trần Nguyên Hãn, phường Cát Dài, quận Lê Chân, Hải Phòng, Phạm Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,8 gam MDMA với mục đích để sử dụng cho bản thân và bị bắt quả tang nên có đủ căn cứ để xác định bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên tội phạm bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng nên cần xử phạt bị cáo mức án trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao bì sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 quần dài màu đen xét là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 ví, 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T, 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm văn T; 01 điện thoại di động màu đen mặt sau có chữ Realme đã qua sử dụng; 01 sim Viettel và số tiền 1.100.000 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 9 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 quần dài; 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; trả lại bị cáo 01 ví, 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T; 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Văn T; 01 điện thoại di động màu đen đã qua sử dụng mặt sau có chữ Realme (không lên nguồn), 01 sim Viettel (theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 28/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng). Trả lại bị cáo số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) theo giấy ủy nhiệm chi ngày 28/11/2022 tại Kho bạc Nhà nước quận Lê Chân nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an quận Lê Chân; - Cơ quan THAHS quận Lê Chân; - Trại tạm giam CATP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - Phòng PV06, PC10 CATP Hải Phòng; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |