vanban.org

Bản án 09/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lý Sái G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,3319 gam ma túy, là Heroin (hoàn lại sau giám định). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Sái G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY ĐỨC
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HS-ST
Ngày 17 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Kim Loan và ông Vũ Đức Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Văn – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 08/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:

Lý Sái G, sinh năm 1969 tại tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; trình độ văn hóa: 0/12; nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: H’Mông; tôn giáo: Tin Lành; con ông Lý A Ch(đã chết) và bà Thào Thị C, sinh năm 1949; có vợ là G Thị Th và 01 con, sinh năm 1987; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/10/2022, đang bị tạm giam – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/10/2022, Lý Sái G điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 93L1- 304.98 của anh Chu Văn Đ trú tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước đến khu vực bờ đập bản N để mua ma túy thì gặp một người phụ nữ (không xác định nhân thân, lai lịch).

G hỏi mua ma túy với số tiền 400.000 đồng thì người phụ nữ đồng ý. Sau khi đưa tiền, G được người phụ nữ đưa cho 01 gói nilon màu hồng, đã được hàn kín, bên trong chứa chất bột màu trắng; G cất gói ma túy vào túi áo trước ngực bên phải để mang về nhà sử dụng. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi G điều khiển xe đến Bản Đ, xã Đ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Tại hiện trường thu giữ 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 93L1- 304.98.

Tại bản kết luận giám định số 283/KLMT-PC09, ngày 27/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon, được niêm phong trong bì thư, gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,3666 gam, là Heroin (hoàn lại sau giám định 0,3319 gam).

Cáo trạng số 05/CTr-VKS ngày 13/01/2023 của của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo Lý Sái G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xác định: Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 21/10/2022, tại Bản Đ, xã Đ, huyên Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức bắt quả tang Lý Sái G đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3666 gam ma túy, là Heroin, mục đích để sử dụng; do đó vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Sái G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lý Sái G từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/10/2022.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,3319 gam ma túy, là Heroin (hoàn lại sau giám định). Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã trả lại cho anh Chu Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 93L1-304.98.

Đối với người phụ nữ (không xác định được nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức tách ra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo Lý Sái G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan; bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật nên vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 21/10/2022, Lý Sái G điều khiển xe mô tô đến khu vực bờ đập Bản N, xã Đ mua 01 gói ma túy của người phụ nữ (không xác định được nhân thân lai lịch) với giá 400.000 đồng; G cất gói ma túy vào túi áo trước ngực bên phải, khi điều khiển xe đến khu vực Bản Đ, xã Đ thì bị bắt quả tang. Tại bản kết luận giám định xác định: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon là chất ma túy, có khối lượng là 0,3666 gam, hoàn lại sau giám định là 0,3319 gam. Vì vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lý Sái G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức là có căn cứ pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo Lý Sái G gây ra là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội; bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm và bị trừng trị nghiêm khắc nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Kết hợp tình tiết giảm nhẹ nêu trên để Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự để xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 0,3319 gam ma túy, là Heroin (hoàn lại sau giám định) cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 93L1-304.98, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã trả lại cho anh Chu Văn Đ là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo Lý Sái G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Đối với người phụ nữ (không xác định được nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức tách ra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Sái G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Sái G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/10/2022.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,3319 gam ma túy, là Heroin (hoàn lại sau giám định).

Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã trả lại cho anh Chu Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 93L1-304.98.

(Đặc điểm của vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lý Sái G phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ