- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? T bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (Mƣời bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 29/12/2022.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HẢI DƢƠNG Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày: 09/03/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đàm Nhân Trác
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Đức
2. Bà Vũ Thị Bền
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1990. Tên gọi khác: Không. Nơi cƣ trú: Thôn An Phòng G, xã Quang Ph, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn Mỏi và bà Khƣơng Thị Thê. Có vợ là Nguyễn Thị Kim Tuyến và 02 con; Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 31/2018/HSST ngày 29/5/2018, TAND huyện Gia Lộc xử phạt Nguyễn Văn T 14 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đã chấp hành xong ngày 18/5/2019.
Bị tạm giữ từ ngày 29/12/2022 đến ngày 04/01/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay. (Có mặt).
- Người làm chứng: Anh Phạm Đức Đ, sinh năm 1988;
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956 (Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 11 giờ ngày 29/12/2022, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà ra đƣờng thôn An Phòng Giang, xã Quang Phục đi nhờ xe của ngƣời đi đƣờng đến khu vực chân cầu Cựu thuộc địa phận xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, T gặp một ngƣời đàn ông không rõ tên, địa chỉ. Qua hỏi chuyện, T biết ngƣời đàn ông này có ma tuý dạng đá bán nên hỏi mua. T và ngƣời đàn ông này thoả thuận mua hai gói Heroine với giá 200.000đ. Sau khi T đƣa 200.000đ, ngƣời đàn ông đƣa cho T 02 gói giấy màu trắng kích thƣớc 2x1 cm bên trong có chứa chất bột màu trắng, T xác định là Heroine và cất vào túi quần phía trƣớc bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe của ngƣời đi đƣờng về nhà. Khi về đến khu vực ngã 4 phố Quý Cao, xã Nguyên Giáp, T xuống xe đi bộ để bắt xe đi nhờ về nhà thì bị lực lƣợng Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 02 gói giấy màu trắng kích thƣớc 2x1 cm bên trong có chứa chất bột màu trắng trong túi quần phía trƣớc, T xác định là Heroine, mục đích cất dấu để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 61/KL-KTHS ngày 31 tháng 12 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất bột (dạng cục) mầu trắng, trong hai gói giấy màu trắng, đƣợc niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định khối lƣợng là 0,163 gam (Không phẩy một trăm sáu ba gam) là ma tuý, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSTK, ngày 03 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T ra trƣớc tòa để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 của Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS. T bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 14 tháng đến 17 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 29/12/2022.
Bị cáo phạm tội phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của ngƣời chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 29/12/2022 tại khu vực ngã tƣ phố Quý Cao, xã Nguyên Giáp, Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,163 gam ma tuý loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Số ma túy bị cáo tàng trữ là 0,163gam ma tuý loại Heroine nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo ra trƣớc toà để xét xử với tội danh trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức đƣợc ma tuý không chỉ gây tác hại cho sức khỏe cho chính ngƣời sử dụng mà và còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhƣng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thƣờng pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trƣớc pháp luật.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhƣng có nhân thân xấu. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song vẫn cần thiết buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là ngƣời sử dụng ma túy, không nghề nghiệp ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,130 gam ma túy loại Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lƣu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với ngƣời bán ma túy cho Nguyễn Văn T, quá trình điều tra không làm rõ đƣợc, nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
1. T bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (Mƣời bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 29/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu cho tiêu hủy 0,130 gam Heroine hoàn lại sau giám định.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 08/02/2023).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng; - VKS, CA, THADS huyện Tứ Kỳ; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự Công an huyện Tứ Kỳ; - Bị cáo. - Lƣu hồ sơ; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Nhân Trác THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Nhân Trác |