vanban.org

Bản án 09/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Tr phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Trường phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG
________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HS-ST
Ngày: 23-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc, Ông Bùi Xuân Nghỉ.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hoàng Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh H tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuê - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại Hội Tr xét xử Toà án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2023/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Đỗ Văn Tr, sinh năm 2001 tại tỉnh H. Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư số 1, xã Đ, huyện M, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn V, con bà Lê Thị Th;

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2022 đến ngày 22/12/2022, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh H, sau đó chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Nguyễn Đức O, Vắng mặt.

Anh Nguyễn Đình U, Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 35 phút ngày 19/12/2022, tại đoạn đường tiếp giáp trường THPT Lê Quý Đôn thuộc thôn Đào Lâm, xã Đ, huyện M, tỉnh H, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện M phát hiện bắt quả tang Đỗ Văn Tr đang có hành vi bán trái phép 01 túi nilon màu trắng, kích thước (23 x 15)cm, bên trong đựng 05 túi nilon màu trắng, trong đó có 04 túi, mỗi túi kích thước khoảng (8,5 x 5,0)cm và 01 (một) túi kích thước khoảng (7,0 x 4,0)cm, bên trong đều đựng cành, lá cây thực vật khô, màu nâu xanh, với giá 1.500.000 đồng cho Nguyễn Đức O, sinh ngày 13/02/2004 ở thôn An Dương, xã Chi Lăng Nam, huyện M, tỉnh H. Thu giữ trong tay phải của O 01 túi nilon màu trắng, bên trong đựng 05 (năm) túi nilon nhỏ đựng cành, lá cây thực vật khô, O khai nhận 05 túi cành, lá cây Cần sa khô là ma túy, O mua để sử dụng; thu giữ trong túi quần phía trước, bên phải của Tr số tiền 1.500.000 đồng, Tr khai nhận đây là số tiền Tr bán 05 (năm) túi cành, lá cây Cần sa khô cho O.

Quá trình điều tra Tr khai nhận: Trước khi bị bắt khoảng 03 tháng, Tr đi Hà Nội chơi và mua của người không quen biết 01 gói cành, lá cây Cần sa khô có khối lượng khoảng 40 gam để bán kiếm lời. Sau khi về nhà, Tr dùng cân tiểu ly của gia đình và mua túi nilon nhỏ để chia số Cần sa mua được thành nhiều túi nhỏ và cất giấu trong lọ nhựa để ở tủ giày trong phòng ngủ tầng 3 của nhà Tr. Sau đó khoảng 2 tháng, Tr gặp và quen O, O hỏi mua 4 gói Cần sa, mỗi gói 5 gam, Tr đồng ý bán với giá 1.500.000 đồng và hẹn tối ngày 19/12/2022 giao hàng tại gần Tr THPT Lê Quý Đôn. Khoảng 18 giờ ngày 19/12/2022, Tr mang theo 05 gói Cần sa, điều khiển xe ô tô Kia Morning, màu trắng, biển số 34D - 009.37 đến đoạn đường gần THPT Lê Quý Đôn để giao hàng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, O nhờ anh Nguyễn Đình U, sinh năm 1996, trú tại thôn Phù Tải 2, xã Thanh Giang, huyện M chở O đi chơi ở khu vực xã Đ. Đến khoảng 18 giờ 30 phút, khi đến gần Tr THPT Lê Quý Đôn, thấy Tr đi xe ô tô đến, O xuống xe đi bộ ra gặp Tr. Khoảng 18 giờ 35 phút cùng ngày, khi Tr đang giao cho O 05 gói cành, lá cây Cần sa khô, O giao cho Tr 1.500.000 đồng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện M phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 05 gói cành lá cây Cần sa khô, số tiền 1.500.000 đồng và 01 xe ô tô Kia Morning, màu trắng, biển số 34D - 009.37.

Ngày 19/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Văn Tr, thu giữ trong ngăn tủ nhựa để giày trong phòng ngủ tầng 3 của Đỗ Văn Tr 01 lọ nhựa màu trắng, hình trụ tròn, kích thước (12x7,5)cm, bên trong đựng các cành, lá cây thực vật khô màu nâu xanh; 01 chiếc cân tiểu ly màu trắng, có chữ ”TANITA”; thu giữ trong ngăn tủ gỗ đầu giường trong phòng ngủ của Tr 05 chiếc vỏ túi nilon màu trắng kích thước (8,5x5)cm, 05 vỏ túi nilon kích thước (7x4)cm.

Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận:

- Mẫu chất dạng cành, lá cây thực vật khô, màu nâu xanh trong niêm phong thu giữ của Nguyễn Đức O, có tổng khối lượng là 17,864gam, là ma túy, loại Cần sa.

- Mẫu chất dạng cành, lá cây thực vật khô, màu nâu xanh trong niêm phong thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Đỗ Văn Tr, có tổng khối lượng là 15,310 gam, là ma túy, loại Cần sa.

Hoàn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong số 38/KL-KTHS, bên trong chứa 16,579 gam ma túy, loại Cần sa trong niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức O; 14,016 gam ma túy, loại Cần sa trong niêm phong vật chứng trong quá trình khám xét nơi ở của Đỗ Văn Tr; 07 túi nilon màu trắng; 02 vỏ phong bì niêm phong gửi giám định.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh H truy tố bị cáo Đỗ Văn Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh H thực hành quyền công tố, trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn Tr từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2022.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

+ Tịch thu cho tiêu huỷ:

16,579 gam ma túy trong phong bì niêm phong số 38/KL-KTHS, loại Cần sa theo niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức O; 14,016 gam ma túy, loại Cần sa theo niêm phong vật chứng trong quá trình khám xét nơi ở của Đỗ Văn Tr; 07 vỏ túi nilon; 02 vỏ phong bì niêm phong gửi giám định;

01 lọ nhựa màu trắng, hình trụ tròn, kích thước (13x7,5)cm bên trong không đựng gì;

01 chiếc cân tiểu ly màu trắng, có chữ ”TANITA” kích thước (17,0x11,5)cm đã qua sử dụng;

05 vỏ túi nilon màu trắng kích thước tương đương nhau (8,5x5,0)cm bên trong không đựng gì;

05 vỏ túi nilon kích thước (7,0x4,0)cm bên trong không đựng gì.

+ Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 35 phút ngày 19/12/2022, tại khu vực đường gần Tr THPT Lê Quý Đôn, thuộc thôn Đào Lâm, xã Đ, huyện M, tỉnh H, Đỗ Văn Tr có hành vi bán trái phép 17,864 gam Cần sa với giá 1.500.000 đồng cho Nguyễn Đức O, sinh ngày 13/02/2004 ở thôn An Dương, xã Chi Lăng Nam, huyện M, tỉnh H, thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, Tr còn có hành vi tàng trữ trái phép tại chỗ ở 15,310 gam Cần sa để bán kiếm lời.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy; Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi, bị cáo đã cố ý vi phạm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh H truy tố bị cáo Đỗ Văn Tr theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khi xem xét, quyết định hình phạt, HĐXX thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng tặng TNHS.

Như vậy, bị cáo phạm vào loại tội phạm nghiêm trọng. HĐXX cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước cũng như sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo đang bị tạm giam, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

+ 16,579 gam ma túy trong phong bì niêm phong số 38/KL-KTHS, loại Cần sa theo niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức O; 14,016 gam ma túy, loại Cần sa theo niêm phong vật chứng trong quá trình khám xét nơi ở của Đỗ Văn Tr; 07 vỏ túi nilon; 02 vỏ phong bì niêm phong gửi giám định là vật cấm lưu hành, vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;

+ Số tiền 1.500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước;

Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ của người bán Cần sa cho Tr nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Nguyễn Đức O mua 17,864gam ma túy loại cành, lá cây Cần sa khô để sử dụng. Hành vi của O chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với O là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với xe ô tô Kia Morning, màu trắng, biển số 34D - 009.37, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Lê Thị Th (mẹ bị cáo Tr), sinh năm 1977, trú tại khu dân cư số 1 xã Đ, huyện M, tỉnh H. Bà Th không biết Tr sử dụng xe ô tô vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô cho bà Th là có căn cứ.

Đối với anh Nguyễn Đình U đi cùng O, nhưng không biết O mua ma túy để sử dụng, nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh U.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

- Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Tr phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Tr 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2022.

* Về hình phạt bổ sung: Không.

3. Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu cho tiêu huỷ:

16,579 gam ma túy trong phong bì niêm phong số 38/KL-KTHS, loại Cần sa theo niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức O; 14,016 gam ma túy, loại Cần sa theo niêm phong vật chứng trong quá trình khám xét nơi ở của Đỗ Văn Tr; 07 vỏ túi nilon; 02 vỏ phong bì niêm phong gửi giám định;

01 lọ nhựa màu trắng, hình trụ tròn, kích thước (13x7,5)cm bên trong không đựng gì;

01 chiếc cân tiểu ly màu trắng, có chữ ”TANITA” kích thước (17,0x11,5)cm đã qua sử dụng;

05 vỏ túi nilon màu trắng kích thước tương đương nhau (8,5x5,0)cm bên trong không đựng gì;

05 vỏ túi nilon kích thước (7,0x4,0)cm bên trong không đựng gì.

+ Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng;

Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh H.

(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/01/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh H).

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn Tr có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ