- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Dào N "tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Triệu Dào N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS - ST Ngày 24/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Văn Long
Bà Hoàng Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Cà Ngọc Tân và ông Vi Văn Luận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Triệu Dào N, sinh ngày xx tháng xx năm 19xx tại xã M, huyện Ng, tỉnh C.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Ph, xã C, huyện P, tỉnh B.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 02/10; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Triệu Chiều Ch và bà Phùng Mùi D (Đều đã chết); vợ Hoàng Mùi Ph, sinh năm 19xx: Có 02 con. Con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 1999.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2022 đến ngày 28/12/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hoàng Mùi Ph, sinh năm 19xx - Trú tại: Thôn Ph, xã C, huyện P, tỉnh B. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 00 phút ngày 19 tháng 12 năm 2022, tổ công tác Công an huyện Pác Nặm tuần tra tại thôn Khuổi Khỉ, xã Xuân La, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn phát hiện Triệu Dào N, sinh năm 1966, trú tại Thôn Ph, xã C, huyện P, tỉnh B đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F9-24xx có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Khi kiểm tra, Triệu Dào N tự giao nộp 01 bao thuốc lá màu trắng đã qua sử dụng, nhãn hiệu “TOURISM” “DU LỊCH” được cất trong túi quần bên phải. Tại giữa lớp vỏ nilon với vỏ bao thuốc mặt “TOURISM” phát hiện 02 gói nhỏ được gói bằng giấy vé xổ số kiến thiết Bắc Kạn, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tại giữa lớp vỏ nilon với lớp vỏ bao thuốc lá mặt “DU LỊCH” phát hiện 01 gói nhỏ được gói bằng giấy vé xổ số kiến thiết Bắc Kạn bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy và 01 gói được gói bằng giấy vé xổ số kiến thiết Bắc Kạn, bên trong có 02 gói nhỏ được gói bằng giấy vé xổ số kiến thiết Bắc Kạn bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã niêm phong các gói (05 gói) nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu N1 và tạm giữ cùng một số đồ vật, tài sản khác để tiến hành điều tra theo quy định.
Tại Biên bản cân xác định khối lượng chất nghi ma túy hồi 14 giờ 50 phút ngày 19/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm xác định: Chất bột màu trắng nghi là ma túy trong phong bì ký hiệu N1 có khối lượng là 0,29gam (không phẩy hai chín gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ chất bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì ký hiệu N3 để gửi giám định. Giấy gói, vỏ phong bì cũ được niêm phong tại phong bì ký hiệu N4 theo quy định.
Tại kết luận giám định số 09 ngày 25/12/2022 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu N3 gửi giám định là ma tuý, loại heroine, khối lượng 0,29g (không phẩy hai chín gam).
Bị cáo Triệu Dào N khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy, khoảng 11 giờ ngày 19/12/2022 Nần điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F9-24xx của gia đình đi đến thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn mục đích để mua ma túy về cho bản thân sử dụng. Tại khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Nần đã gặp và mua được 02 gói nhỏ ma túy được gói bằng giấy vé xổ số kiến thiết với giá 400.000đ với một người đàn ông không biết nhân thân, lai lịch. Nần chia số ma túy vừa mua được thành 05 (năm) gói nhỏ và gói lại bằng giấy vé xổ xố kiến thiết rồi cất vào giữa lớp giấy nilon và vỏ hộp bao thuốc lá và giấu túi quần bên phải, sau đó điều khhiển xe đi đến đoạn đường thuộc thôn Khuổi Khỉ, xã Xuân La, huyện Pác Nặm thì bị Công an huyện Pác Nặm bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSPN ngày 02/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử Triệu Dào N về "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Dào N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Triệu Dào N từ 12 đến 15 tháng tù, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 19/12/2022 tại thôn Khuổi Khỉ, xã Xuân La, huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn, Triệu Dào N đã có hành vi tàng trữ 0,29 gam chất ma túy, loại heroine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Pác Nặm bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
…………………………………………………
c, Heroine……có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
………………………………………………
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự , mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội.
.Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. HĐXX xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra, xác minh cho thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
. Về vật chứng của vụ án:
Vật chứng của vụ án gồm:
01 căn cước công dân số 00406600xxxx mang tên Triệu Dào N là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.
01 điện thoại di động màu xanh, bàn phím cứng (bàn phím vật lý) đã qua sử dụng, được gắn một thẻ sim Viettel có sáu số seri cuối 457xxx là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo
01 xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, màu sơn nâu, biển kiểm soát 97F9-24xx đã qua sử dụng cùng 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 014 054 mang tên Đặng Xuân Hà, chiếc xe là tài sản chung của bị cáo và vợ là Hoàng Mùi Ph, bị cáo đã sử dụng chiếc xe vào việc đi mua trái phép chất ma túy bà Phấy không biết, do vậy cần tịch thu 1/2 giá trị của chiếc xe để nộp ngân sách Nhà nước, 1/2 giá trị còn lại của chiếc xe được trả lại cho bà Phấy.
01 vỏ bao thuốc lá màu trắng đã qua sử dụng, một mặt có dùng chữ “DU LỊCH”, một mặt có dòng chữ “TOURISM” là của bị cáo sử dụng để cất giấu ma túy không có giá trị xử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
01 phong bì niêm phong ký hiệu T07 chứa mẫu ma túy hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
01 phong bì niêm phong ký hiệu N4 chứa giấy gói ban đầu và vỏ phong bì ký hiệu N1 không có giá trị xử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo. Do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Triệu Dào N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Triệu Dào N 12 (Mười hai) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/12/2022 đến ngày 28/12/2022 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
[3]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
01 vỏ bao thuốc lá màu trắng đã qua sử dụng, một mặt có dùng chữ “DU LỊCH”, một mặt có dòng chữ “TOURISM”.
01 phong bì niêm phong ký hiệu T07 chứa mẫu ma túy hoàn trả sau giám định.
01 phong bì niêm phong ký hiệu N4 chứa giấy gói ban đầu và vỏ phong bì ký hiệu N1.
- Tịch thu hóa giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, màu sơn nâu, biển kiểm soát 97F9-24xx đã qua sử dụng cùng 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 014 xxx mang tên Đặng Xuân H để nộp ngân sách nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe và trả lại 1/2 giá trị của chiếc xe cho bà Hoàng Mùi Ph, sinh năm 1973 trú tại Thôn Ph, xã C, huyện P, tỉnh B.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu xanh, bàn phím cứng (bàn phím vật lý) đã qua sử dụng, được gắn một thẻ sim Viettel có sáu số seri cuối 457xxx.
(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn).
[4]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[5]. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhân:
| - VKSND huyện Pác Nặm. (01b) - TAND tỉnh Bắc Kạn. (01b) - VKSND tỉnh Bắc Kạn.(01b) - Bộ phận hồ sơ CA huyện Pác Nặm. (03b) - Chi cục THADS huyện Pác Nặm. (01b) - Sở Tư pháp. (01b) - Bị cáo. (01b) - Người có QL,NVLQ. (01b) - Lưu hs; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hà Thanh Tuấn |