- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 09/02/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
__________________
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Gia Văn Tính và Ông Vi Văn Thuấn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Hà Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/TLST-HS ngày 07/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST-HS ngày 28/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/HSST-QĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Văn H, sinh năm: 1977
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Nơi sinh: Xã Dân Lực, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ĐKHKTT: Khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H1 (đã chết), Con bà: Lê Thị L (đã chết). Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1988. Bị cáo có hai người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2013. Hiện vợ và các con của bị cáo đang sinh sống tại khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 18/10/2006 Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt Cảnh cáo về tội Không tố giác tội phạm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí (Đã được xóa án tích).
- Ngày 05/10/2010, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Mường Lát xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội Đánh bạc. (Đã được xóa án tích).
- Ngày 20/7/2016 Nguyễn Văn H bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình phạt tiền mức phạt là 1.000.000đ về hành vi Đánh bạc. Đã được xóa tiền sự.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, theo Lệnh cấm đi khỏi nơ cư trú số: 10/2022/LCĐKNCT-TAML ngày 07/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Lò Văn D, sinh năm: 2005; Trú tại: Khu phố Buốn, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. (Đã chết)
- Đại diện bị hại:
1. Anh Lò Văn U, sinh năm 1986
2. Chị Lương Thị P, sinh năm 1987
Đều trú tại: Khu phố Buốn, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm: 1988; Trú tại: Khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
2. Anh Trịnh Khắc N, sinh năm: 1974; Trú tại: Khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
- Người làm chứng:
1. Anh Lò Văn H, sinh năm: 1954; Trú tại: Khu phố Na Khà, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
2. Chị Lò Thị T, sinh năm: 1982; Trú tai: Khu phố Na Khà, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
3. Anh Hà Văn N, sinh năm: 1979; Trú tại: Khu phố Buốn, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
4. Anh Đỗ Viết Q, sinh năm: 1989; Trú tại: Khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 15/5/2022, Nguyễn Văn H, sinh năm 1977, trú tại khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát là người có giấy phép lái xe Hạng C điều khiển xe ôtô BKS: 43C-196.21, hiệu NISSAN, loại xe NAVARA, loại xe tải Pickup cacbin kép, màu xanh, số khung 2D23Z0046338, số máy YD25794800T đi hướng xã Quang Chiểu - Thị trấn Mường Lát. Cùng đi trên xe còn có anh Đỗ Viết Q, sinh năm 1989, cùng nơi cư trú với Nguyễn Văn H. Khi đi đến Km 106 + 900 Quốc lộ 15C, thuộc địa phận khu phố Na Khà, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, Thanh Hóa thì xe ôtô do H điều khiển va chạm với xe mô tô BKS: 36AA-366.32 do Lò Văn D- Sinh năm 2005, trú tại khu phố Buốn, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa điều khiển đi chiều ngược lại. Sau khi xảy ra va chạm, H không xuống xem, kiểm tra mà chạy ôtô thẳng về nhà ở khu 4, thị trấn Mường Lát. Còn Lò Văn D sau va chạm một lúc thì có người dân gần đó phát hiện nên đã báo chính quyền địa phương và cùng với cơ quan chức năng đưa D đến Bệnh viện đa khoa huyện Mường Lát cấp cứu. Nhưng do bị thương nặng, nên D được chuyển đi bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa trong tình trạng hôn mê, đến chiều ngày 15/5/2022 thì Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa trả về cho gia đình, do xác định nạn nhân đã tử vong.
Sau khi nhận được tin báo vụ tai nạn, Cơ quan CSĐT và Công an Thị trấn Mường Lát bảo vệ hiện trường, phối hợp với VKSND huyện Mường Lát khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định pháp y tử thi, giám định dấu vết phương tiện, giám định hóa pháp. Kết quả như sau:
* Khám nghiệm hiện trường: Biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 10 giờ 30 phút ngày 15/5/2022, điều kiện thời tiết nắng, khô ráo, ánh sáng tự nhiên đủ điều kiện cho công tác khám nghiệm hiện trường. Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ là Km 106 + 900, Quốc lộ 15C, thuộc địa phận khu phố Na Khà, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát. Đoạn đường cong, mặt phẳng, rải nhựa, có vạch kẻ đường màu vàng đứt quãng ở giữa đường, phân thành hai làn đường xe chạy. Lòng đường rộng 6,9m, lề đường bên phải theo hướng thị trấn Mường Lát đi xã Quang Chiểu rộng 0,8m, lấy mép đường chuẩn và hướng khám nghiệm từ thị trấn Mường Lát đi xã Quang Chiểu và có đánh số thứ tự từ 01 đến 08 để xác định các vị trí như vết lốp xe, các mảnh vỡ, xe máy, vết cà trượt, các đồ vật…đã thể hiện trong bản ảnh và sơ đồ hiện trường. Điểm mốc khám nghiệm lấy cột điện sáng bằng bê tông có ký hiệu “1.10 TBA TÉN TẰN 5” thuộc khu phố Na Khà, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa (Vị trí số 8).
- Qua khám nghiệm hiện trường xác định cụ thể như sau: Chiều dài vết lốp xe từ vị trí bắt đầu đến vị trí kết thúc dài 2,1m, rộng 0,25m. Điểm bắt đầu của vết cách mép đường chuẩn 1,5m, điểm kết thúc của vết cách mép đường chuẩn 1,3m, bên phải đường theo hướng từ thị trấn Mường Lát đi xã Quang Chiểu. Vết có chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái theo hướng xã Quang Chiểu đi thị trấn Mường Lát (Vết số 1).
- Chiếc mũ vải màu đen, bên trên mũ có dòng chữ MIKENCO kích thước 0,25 x 0,15m, cách mép đường chuẩn 0,3m, cách trục sau xe máy 36AA-366.32 là 1,5m, cách điểm mốc (8) là 14,5m (Vết số 2);
- Chiều dài vết cà trượt bị đứt đoạn từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc dài 5,45m, rộng 0,03m, cách mép đường chuẩn 0,8m, điểm kết thúc của vết nằm trong lề đường phía trong theo hướng khám nghiệm, cách điểm mốc (8) 09 mét (Vết số 3);
- Vị trí các mảnh nhựa vỡ (gồm màu đỏ, trắng, đen và cụm đèn xe dạng ô tô nằm tại vị trí phần đường bên phải theo hướng từ thị trấn Mường Lát đi xã Quang Chiểu, kích thước trong diện 1,3 x 3,8m (Vết 4);
- Chiếc điện thoại di động nằm trên nền đất bên lề đường bên phải theo hướng khám nghiệm, điện thoại bị cong vênh, vỡ màn hình, kích thước 0,8 x 0,16m, cách trục sau xe máy 36AA- 366.32 là 2,2m, cách điểm mốc 7,75m (Vết 5);
- Vị trí 01 (một) xe máy BKS 36AA-366.32 nằm trên lề đường bên phải theo hướng thị trấn Mường Lát đi xã Quang Chiểu, xe nằm nghiêng 450 với mặt đất, đầu xe quay về hướng Đông Nam, đuôi xe quay về hướng Tây Bắc, trục trước xe cách điểm mốc 5,6m, trục sau xe cách lề đường 0,8m (Vết 6).
* Tại biên bản khám nghiệm phương tiện:
+ Xe Mô tô BKS: 36AA-366.32: Mặt lăn má trái lốp trước cách vành tương ứng dòng chữ JAPANEST STANARD có vết cà trượt làm mòn cao su, kích thước 23x5,5cm, vết có chiều từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến;
+ Mặt trước ngoài giảm sóc trước bên trái, đầu xe phía trước bên phải, thân xe có vết cà trượt làm mòn sơn màu đỏ, nứt, vỡ nhựa, cong vênh móp méo kim loại diện 110x85cm, vết có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, bề mặt vết có bám dính chất màu xanh “dạng sơn”.
+ Mặt trước tay nắm, tay phanh bên phải, giá để chân trước bên phải, tay nâng, dưới ống bô có vết cà trượt làm mòn kim loại và cao su, các vết có chiều từ trên xuống dưới, từ sau về trước, bề mặt bám dính bụi bẩn.
- Xe Ô tô BKS: 43C-196.21:
+ Mặt trước ngoài ba đờ sóc trước, cách thành xe bên trái 15cm, có vết cà trượt làm mòn xước sơn, nứt vỡ nhựa, cong vênh, móp méo kích thước 20x10cm, vết có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, bề mặt bám dính chất màu đen “dạng cao su”, vỡ ốp nhựa bên trái, ba đờ sóc cong vênh cốt sắt.
+ Mặt ngoài bên trái ba đờ sóc trước, cụm đèn chiếu sáng phía trước bên trái đến nắp capo và tai xe bên trái có vết trượt làm mòn sơn, nứt, vỡ nhựa và làm cong, vênh, móp méo kim loại, kích thước 80x55cm, vết có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, bề mặt vết bám dính chất màu đỏ “dạng sơn” và in các vết sọc song song dạng vân tải.
+ Mặt trước ngoài ba đờ sóc có vết cà trượt làm mòn sơn màu xanh, kích thước 40x75cm, có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, bề mặt vết dính chất màu nâu “dạng sơn”, kích thước 30x105cm.
* Tại kết luận giám định pháp y: Số 1850/GĐPY-PC09 ngày 27/5/2022 của phòng kỹ thuật hình sự về nguyên nhân chết của Lò Văn D kết luận, về dấu hiệu qua giám định: có vết xước da, bầm tụ máu tại vùng đầu, bụng, lưng, tay trái, hai chân; tụ ngấm máu tổ chức dưới da đầu vùng trán phải và đỉnh trái; Tụ máu dưới dạng cứng, Tụ máu màng mềm; Phù não; Tụ ngấm máu tổ chức dưới da, cơ vùng bụng, mặt sau xương ức, trung thất; Bầm tụ máu phổi phải, cơ tim; Tụ máu mạc treo và một phần dạ dày, niêm mạc dạ dày, niêm mạc dạ dày Sung huyết.
Nguyên nhân chết: Tụ máu não, phù não.
* Tại kết luận giám định số: 2014/KL-KTHS, ngày 01/6/2022 của phòng kỹ thuật hình sự kết luận:
+ Điểm va chạm giữa hai phương tiện: Mặt trước ngoài bên trái ba đờ sốc trước cách thành xe bên trái 15cm xe ô tô BKS 43C-196.21 với mặt lăn, má trái lốp trước và cạnh vành tương ứng hàng chữ “JAPANESE STANDARD” xe mô tô 36AA-366.32.
+ Tại thời điểm va chạm hai phương tiện chuyển động ngược chiều.
+ Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trong khoảng sau đầu vết (1) và sau đầu vết (3), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải theo hướng từ thị trấn Mường Lát đi xã Quang Chiểu.
+ Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm va chạm.
* Tại bản kết luận pháp y về hóa pháp số: HP126/2022/TTPY ngày 09/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa, đối với mẫu máu của Lò Văn D, sinh năm 2005, trú khu phố Buốn, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
+ Không có cồn Methanol
+ Có cồn Ethanol, nồng độ 67,2mg/100ml máu (Sáu bảy phẩy hai miligam Ethanol trong một trăm mi li lít máu).
+ Không phát hiện thấy các chất ma túy.
* Tại kết luận giám định pháp y về hóa pháp số: HP 127/2022/TTPY ngày 09/6/2022 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa, đối với mẫu máu của Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1977, trú ở khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
+ Không có cồn Ethanol, Methanol.
+ Không phát hiện các chất ma túy.
Còn đối với Nguyễn Văn H, sau khi gây ra vụ tai nạn nói trên, đến khoảng 08 giờ 30 phút sáng cùng ngày 15/5/2022 Hoàng đã ra Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát đầu thú, khai nhận do không biết nạn nhân sống chết thế nào, nhưng vì quá hoang mang, lo lắng, hoảng sợ, không suy nghĩ được gì, nên đã lái xe về nhà ở khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát ngủ. Đến sáng ngày 15/5/2022 khi nghe tin người đã va chạm với mình đang đi cấp cứu và lúc này Hoàng cũng đã bình tĩnh lại tinh thần nên đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận có va chạm với 01 nam thanh niên ở khu vực Na Khà, thị trấn Mường Lát, trên Quốc lộ 15C vào tầm hơn 12 giờ đêm ngày 14/5/2022. Khi biết xảy ra tai nạn, Hoàng hoang mang, lo sợ nên không xuống xem mà chạy xe về nhà mình ở khu 4, thị trấn Mường Lát ngủ. Đến sáng hôm sau (15/5/2022) khi nghe mọi người nói người bị nạn với xe ô tô do H điều khiển là nam thanh niên ở khu phố Buốn, thị trấn Mường Lát thì Hoàng cùng gia gia đình đến thăm hỏi, lo mai táng và sau đó chủ động ra đầu thú tại Công an huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
* Đối với 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số: 310165884725 do Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 29/11/2021 mang tên Nguyễn Văn H. Qua kết quả điều tra, xác minh, tra cứu cùng hồ sơ sát hạch cấp giấy phép lái xe do Nguyễn Văn H cung cấp, xác định giấy phép lái xe trên của Nguyễn Văn H là thật.
* Đối với vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) xe ô tô BKS: 43C-196.21, hiệu NISSAN, loại xe NAVARA, loại xe tải Pickup cacbin kép, màu xanh, số khung 2D23Z0046338, số máy YD25794800T do Nguyễn Văn H điều khiển gây tai nạn đối với anh Lò Văn D vào ngày 15/5/2022. Qua điều tra xác định, chiếc xe do Nguyễn Văn H mượn của anh Trịnh Khắc N, sinh năm 1974, trú khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát ngày 14/5/2022. Anh N giao xe ô tô cho H điều khiển khi biết rõ H là người đã có Giấy phép lái xe hợp lệ, anh N không liên quan trong vụ án này và đã làm đơn xin từ chối định giá tài sản; Sau đó anh Trịnh Khắc N đã có đơn xin lại xe, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện đã trả lại xe và các loại giấy tờ liên quan xe cho anh N.
- 01 xe môtô BKS: 36AA-366.32, nhãn hiệu DAELIMKORE, loại xe hai bánh, dưới 50cm3, màu đỏ bạc, số khung RL9BCBDUMLAG01643, số máy VAG1P39FMB3A101643, xe đã qua sử dụng là xe do anh Lò Văn D điều khiển dẫn đến tai nạn và tử vong, đây là xe của chị Lương Thị P (Mẹ Duy), chị P cũng xin từ chối giám định tài sản và có đơn xin lại xe, Cơ quan CSĐT đã xem xét đủ điều kiện trả tài sản, nên đã trả lại xe này cho chị Phượng.
- Vật chứng còn lại gồm 01 (một) CCCD và 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn H đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật.
* Về phần dân sự: Sau khi xảy ra vụ tai nạn, bị cáo Nguyễn Văn H tích cực khắc phục hậu quả và đã tự nguyện bồi thường số tiền 196.000.000đ (Một trăm chín sáu triệu đồng) cho gia đình cháu Lò Văn D, đại diện cho cháu D là bố, mẹ đẻ là anh Lò Văn U và chị Lương Thị P, trú tại khu phố Buốn, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát đã nhận đủ số tiền trên và làm đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn H. Ngoài ra không yêu cầu bồi thường gì thêm và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện gì liên quan đến trách nhiệm dân sự.
Đối với anh Trịnh Khắc N, sinh năm 1974, trú khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát là chủ chiếc xe ôtô BKS: 43C-196.21, hiệu NISSAN, loại xe NAVARA cho H mượn đi ngày 14/5/2022 sau đó gây ra vụ tai nạn trên làm xe anh bị hư hỏng phải sửa chữa. Anh N không đề nghị Nguyễn Văn H phải bồi thường hậu quả, nên Cơ quan pháp luật không xem xét.
Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số: 74/CT-VKS-ML ngày 06/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, không khai báo thêm tình tiết mới.
- Những người đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày: Đã nhận đủ số tiền 196.000.000đ mà Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị S (vợ H) đã bồi thường, cũng đã nhận lại chiếc xe máy, nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo Hoàng bồi thường thêm gì.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị S trình bày: Chị là vợ của bị cáo Nguyễn Văn H, sáng ngày 15/5/2022 khi nghe chồng chị là Nguyễn Văn H nói là tối hôm trước có gây tại nạn và nạn nhân đang phải đi cấp cứu tại Bệnh viện, thì chị và Nguyễn Văn H đã đến gia đình bị hại xin lỗi gia đình, cũng đã bồi thường số tiền 196.000.000đ là tiền chung của vợ chồng vay mượn. Nay chị không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H phải trả lại số tiền này.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Khắc N vắng mặt, nhưng tại quá trình điều tra, anh trình bày: Anh là chủ chiếc xe ôtô BKS: 43C-196.21, hiệu NISSAN, loại xe NAVARA cho Hoàng mượn đi ngày 14/5/2022 sau đó gây ra vụ tai nạn trên làm xe anh bị hư hỏng phải sửa chữa. Nay anh đã nhận lại chiếc xe này, không yêu cầu Nguyễn Văn H phải bồi thường gì.
Tranh luận và luận tội tại phiên tòa: Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điều 38; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo từ 24 đến 26 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án;
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có chức vụ, nghề nghiệp gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 47; BLHS; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát đã trả lại 01(một) xe ôtô BKS: 43C-196.21, hiệu NISSAN, loại xe NAVARA, loại xe tải Pickup cacbin kép, màu xanh, số khung 2D23Z0046338, số máy YD25794800T và các giấy tờ xe cho anh Trịnh Khắc N, sinh năm 1974, trú khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát ngày 14/5/2022.
- Chấp nhận Cơ quan CSĐT CÔng an huyện Mường Lát đã trả lại 01 xe môtô BKS: 36AA-366.32, nhãn hiệu DAELIMKORE, loại xe hai bánh, dưới 50cm3, màu đỏ bạc, SK RL9BCBDUMLAG01643, SM VAG1P39FMB3A101643, xe đã qua sử dụng cho chị Lương Thị P (Mẹ D).
Trả lại cho bị cáo: 01 (một) CCCD và 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn H đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ tai nạn, bị cáo Nguyễn Văn H tích cực khắc phục hậu quả và đã tự nguyện bồi thường số tiền 196.000.000đ (Một trăm chín sáu triệu đồng) cho gia đình cháu Lò Văn D, đại diện cho cháu D là bố, mẹ đẻ là ông Lò Văn U và bà Lương Thị P, trú tại khu phố Buốn, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát đã nhận đủ số tiền trên và làm đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn H. Ngoài ra không yêu cầu bồi thường gì thêm và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện gì liên quan đến vụ việc này.
Đối với anh Trịnh Khắc N, sinh năm 1974, trú khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát là chủ chiếc xe ôtô BKS 43C-196.21, hiệu NISSAN, loại xe NAVARA cho H mượn đi ngày 14/5/2022 sau đó gây ra vụ tai nạn trên làm xe anh bị hư hỏng phải sửa chữa. Anh N không đề nghị Nguyễn Văn H phải bồi thường hậu quả, nên Cơ quan pháp luật không xem xét.
Bị cáo nhận tội, không thay đổi, bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ, khách quan, nghiêm túc các bước điều tra, truy tố theo đúng nguyên tắc tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét về tư cách tố tụng trong vụ án: Xét trong vụ án này người bị hại Lò Văn D đã chết có các người đại diện hợp pháp là anh Lò Văn U (bố đẻ của anh D) và chị Lương Thị P (mẹ đẻ anh D).
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, kết luận giám định và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vào khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 15/5/2022, tại Km 106+900, Quốc lộ 15C thuộc địa phận khu phố Na Khà, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn Văn H là người có giấy phép lái xe Hạng C lái xe ôtô bán tải biển kiểm soát 43C-196.21 đi từ khu phố Tén Tằn về hướng thị trấn Mường Lát. Khi đến khu vực khu phố Na Khà, thị trấn Mường Lát, Nguyễn Văn H đã điều khiển xe ôtô đi sang làn đường bên trái lấn phần đường của chiều xe đi ngược lại, nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 36AA-366.32 do cháu Lò Văn D- Sinh năm 2005 điều khiển. Hậu quả làm cháu Lò Văn D bị chết do tụ máu não, phù não. Sau khi gây ra vụ tai nạn, Nguyễn Văn H không dừng ngay phương tiện, không giữ nguyên hiện trường, không thực hiện việc cấp cứu người bị nạn mà bỏ chạy khỏi hiện trường. Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng sức khỏe, tài sản của người khác. Cụ thể bị cáo đã điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 17 và điểm a khoản 1 Điều 38 Luật Giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người. Sau khi gây tai nạn bị cáo không dừng ngay phương tiện, không giữ nguyên hiện trường, không thực hiện việc cấp cứu người bị nạn mà bỏ chạy khỏi hiện trường. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 BLHS là đúng người đúng tội đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng, bị cáo là người có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 18/10/2006 Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt Cảnh cáo về tội Không tố giác tội phạm và Ngày 05/10/2010, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Mường Lát xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội Đánh bạc. (Đều đã được xóa án tích). Ngày 20/7/2016 Nguyễn H bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình phạt tiền mức phạt là 1.000.000đ về hành vi Đánh bạc. Đã được xóa tiền sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật bị cáo đã ra đầu thú, trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã tích cực bồi thường cho gia đình bị hại, khắc phục hậu quả, được gia đình nạn nhân làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng đối với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
. Xét về hình phạt:
Hình phạt chính: Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn Hoàng.
. Xét về vật chứng và biện pháp tư pháp:
Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát đã trả lại 01(một) xe Ô tô BKS: 43C-196.21, hiệu NISSAN, loại xe NAVARA, loại xe tải Pickup cacbin kép, màu xanh, số khung 2D23Z0046338, số máy YD25794800T và các giấy tờ xe cho anh Trịnh Khắc N, sinh năm 1974, trú khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát ngày 14/5/2022.
Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát đã trả lại 01 xe môtô BKS: 36AA-366.32, nhãn hiệu DAELIMKORE, loại xe hai bánh, dưới 50cm3, màu đỏ bạc, số khung: RL9BCBDUMLAG01643, số máy: VAG1P39FMB3A101643, xe đã qua sử dụng cho chị Lương Thị P (Mẹ D).
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (một) CCCD và 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn H đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật. Vì đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo.
Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo tiếp tục được thực hiện để đảm bảo cho việc thi hành án.
. Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi xảy ra vụ tai nạn, bị cáo Nguyễn Văn H tích cực khắc phục hậu quả và đã tự nguyện bồi thường số tiền 196.000.000đ (Một trăm chín sáu triệu đồng) cho gia đình cháu Lò Văn D, đại diện hợp pháp cho cháu D là bố, mẹ đẻ là anh Lò Văn U và chị Lương Thị P, trú tại khu phố Buốn, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện gì liên quan đến vụ việc này.
Đối với anh Trịnh Khắc N, sinh năm 1974, trú khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát là chủ chiếc xe oto BKS BKS: 43C-196.21, hiệu NISSAN, loại xe NAVARA cho H mượn đi ngày 14/5/2022 sau đó gây ra vụ tai nạn trên làm xe anh bị hư hỏng phải sửa chữa. Anh N không đề nghị Nguyễn Văn H phải bồi thường, nên không xem xét.
Đối với chị Nguyễn Thị S (là vợ bị cáo) là cùng bị cáo bồi thường số tiền cho gia đình bị hại, nay chị Nguyễn Thị S không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H phải trả lại số tiền này, nên HĐXX không xem xét.
. Xét về phần án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo có tội nên phải chịu 200.000đ án phí HSST. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
. Các nhận định khác: Đối với anh Đỗ Viết Q, sinh năm 1989, trú khu 4, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát là người ngồi cùng xe với bị cáo Hoàng, khi xảy ra va chạm tai nạn anh Quang đang ngủ, Nguyễn Văn H cũng không dừng xe mà tiếp tục chạy về nhà ở khu 4, nên Quang không biết xảy ra tai nạn, nên trong vụ án này Đỗ Viết Q không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố, bị cáo Nguyễn Văn Hoàng phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Về hình phạt: Hình phạt chính, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về tang vật và biện pháp tư pháp:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (một) CCCD và 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn H. Vật chứng đang lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 16/2023/TV-CCTHADS ngày 07/11/2022 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 10/2022/LCĐKNCT-TAML ngày 07/11/2022 tiếp tục được thực hiện để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong cho người đại diện hợp pháp của bị hại trong quá trình điều tra. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí HSST. Bị cáo không phải nộp án phí dân sự do đã bồi thường trước khi mở phiên tòa.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ Điều 331, Điều 333 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, có mặt người đại diện hợp pháp của bị hại, có mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Sen, vắng mặt ngươi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Khắc Nhất; Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự căn cứ Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận : - Phòng KTNV, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKS nhân dân H. Mường Lát; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - CQĐT Công an H. Mường Lát; - Bộ phận hồ sơ - Công an H. Mường Lát; - Cơ quan THAHS - CA huyện Mường Lát; - Chi cục THADS huyện Mường Lát; - UBND TT Mường Lát, huyện Mường Lát; - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Hồ sơ Thi hành án Hình sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Dũng |