- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Nho T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ cáo Trần Nho T ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 09-02-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Ngọc Phức
2. Ông Tống Xuân Tú
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Nho T, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: thôn Ph, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Nho Kh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tháng 9 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014 tham gia nghĩa vụ quân sự tại trung đoàn 43, sư đoàn 395, quân khu 3; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/11/2022 đến ngày 17/11/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình “có mặt”.
Những người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1980 (vắng mặt). Địa chỉ: tổ dân phố Nh, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
2. Anh Nguyễn Bá L, sinh năm 1987 (vắng mặt). Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bị nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 14/11/2022, Trần Nho T từ nhà ra Quốc lộ 39A đi nhờ xe một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) xuống khu vực ngã tư Tiên Hưng, huyện Đ, tỉnh Thái Bình với mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực ngã tư Tiên Hưng, T gặp một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không biết tên tuổi địa chỉ), qua nói chuyện T biết người phụ nữ bán ma túy nên T đã đặt vấn đề mua ma túy Hêrôin với giá 200.000 đồng. Người phụ nữ đồng ý cầm tiền và đưa lại cho T 02 gói giấy tráng kim màu trắng, biết đó là ma túy Hêrôin nên T cầm cho vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi nhờ xe của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) về thị trấn H, huyện H để tìm nơi sử dụng ma túy. Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi đang đi bộ trên đoạn đường Quốc lộ 39A thuộc địa phận tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, T bị Tổ công tác Công an huyện H phát hiện yêu cầu kiểm tra, T tự nguyện giao nộp từ túi quần bên phải phía trước đang mặc 02 gói giấy tráng kim màu trắng, mở kiểm tra bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, có khối lượng 0,1256 gam. T khai nhận đó là ma túy, loại Hêrôin cất giấu để sử dụng cho bản thân. Công an huyện H, tiến hành niêm phong 02 gói ma túy trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng. Tiếp tục kiểm tra, Công an huyện H không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì. Sau đó, lực lượng công an đưa T cùng tang vật về trụ sở Công an thị trấn H để tiếp tục làm việc. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Nho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không quản lý, thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Bản kết luận giám định số 422/KL-KTHS(MT) ngày 15/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1256 gam (không phẩy một nghìn hai trăm năm mươi sáu gam).
Bản Cáo trạng số 08/CT- VKSHH ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 BLHS; xử phạt bị cáo T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/11/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 422/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn trả mẫu vật gửi giám định thu giữ của bị cáo T. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục từ số 22 đến số 23); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục số 24); Bản kết luận giám định số 422/KL-KTHS(MT) ngày 15/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 29); lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Minh T1 và anh Nguyễn Bá L (bút lục số 46 đến số 48, từ số 67 đến số 70). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 14/11/2022, tại đoạn đường Quốc lộ 39A thuộc địa phận Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Trần Nho T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1256 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, bị Công an huyện H bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) …
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d)…
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực điều khiển hành vi của mình, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán…trái phép chất ma túy, nhưng do mắc nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham gia quân đội nhân dân Việt Nam nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo nói riêng và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo tàng trữ ma túy, mục đích là để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy bị cáo T khai: Khoảng 10 giờ ngày 14/11/2022, T gặp và mua 02 gói ma túy, loại Hêrôin của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực ngã tư Tiên Hưng, huyện Đ, tỉnh Thái Bình với giá 200.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành điều tra, xác minh, ngoài lời khai của T không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, vì vậy không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho T nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: 0,0808gam (Không phẩy không nghìn tám trăm linh tám gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 422/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình thu của bị cáo T là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyªn bè: BÞ cáo Trần Nho T ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
2. ¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51; ĐiÒu 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử ph¹t bị cáo T 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/11/2022.
3. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu để tiêu huỷ 0,0808gam (Không phẩy không nghìn tám trăm linh tám gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 422/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).
4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bÞ c¸o T ph¶i nộp 200.000 đồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
5. Về quyền kháng cáo: BÞ c¸o T cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. * Nơi nhận:
| - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS H; - Công an huyện H; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Nhàn |