- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Trùng S và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 09-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thúy Phƣơng
Bà Đoàn Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đình Sắc - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Hƣơng Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai bằng hình thức trực tuyến. Phiên tòa đƣợc thực hiện tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
Tại điểm cầu trung tâm gồm: Hội đồng xét xử; Kiểm sát viên; Thƣ ký Tòa án.
Tại điểm cầu thành phần gồm: Kiểm sát viên; Thƣ ký Tòa án; cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ, bị cáo và ngƣời bào chữa cho các bị cáo.
Xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2023/HSST ngày 04 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Dƣơng Trùng S, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1999 tại: Huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cƣ trú: Thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Dì L và bà Triệu Múi M; vợ, con: Chƣa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính, chƣa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2022, tạm giam từ ngày 22/10/2022 đến nay; có mặt.
2. Dƣơng Trùng S2, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1998 tại: Huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cƣ trú: Thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Dì Ch (đã chết) và bà Hoàng Múi Ph; vợ, con: Chƣa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính, chƣa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2022, tạm giam từ ngày 22/10/2022 đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Trùng S: Bà Chu Bích Thu thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nƣớc tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Trùng S2: Bà Nông Thị Trang thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nƣớc tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Dƣơng Cƣờng Ph; vắng mặt.
2. Anh Phạm Thế H; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trƣơng Văn H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 13 giờ 00 ngày 19/10/2022 tổ công tác Công an xã Xuất Lễ, huyện Cao Lộc phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Dƣơng Trùng S, sinh năm 1999, hộ khẩu thƣờng trú tại: Thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải của Dƣơng Trùng S đang mặc có 01 (một) túi nilon đựng 09 (chín) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói giấy đều đựng chất bột màu trắng. Dƣơng Trùng S khai nhận chất bột màu trắng trong các gói giấy nêu trên đều là chất ma túy Heroine của Dƣơng Trùng S đi cùng với Dƣơng Trùng S2, sinh năm 1998, hộ khẩu thƣờng trú tại: Thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, ra thành phố L mua về để sử dụng và bán kiếm lời. Vật chứng phát hiện, thu giữ: 01 (túi) nilon trong suốt, bên trong đựng 09 (chín) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói giấy đều đựng chất bột màu trắng nghi là chất ma túy; Số tiền 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam chƣa qua giám định; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ căn cƣớc công dân 020099004xxx. Tổ công tác đã đƣa đối tƣợng cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang để điều tra làm rõ.
Căn cứ lời khai của Dƣơng Trùng S và các tài liệu chứng cứ thu thập đƣợc, cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc đã ra Lệnh giữ ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp đối với Dƣơng Trùng S2. Vật chứng thu giữ: 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam chƣa qua giám định.
Bản Kết luận giám định số 370/KL-KTHS ngày 22/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine có tổng khối lƣợng là 0,208 gam (đã trừ bì).
Bản kết luận giám định số 429/KL-KTHS ngày 26/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt nam 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm nghìn đồng) niêm phong trong hai phong bì gửi giám định đều là tiền thật.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận: Dƣơng Trùng S và Dƣơng Trùng S2 đều nghiện ma túy Heroine, để có ma túy sử dụng, Dƣơng Trùng S và Dƣơng Trùng S2 đã bàn cùng nhau đi mua ma túy về chia nhỏ để sử dụng và bán lại kiếm lời. Thông qua các con nghiện nên Dƣơng Trùng S biết ở khu vực ngã x, phƣờng T, thành phố L có ngƣời bán ma túy. Khoảng 07 giờ ngày 18/10/2022 Dƣơng Trùng S cùng Dƣơng Trùng S2 đón xe khách ra khu vực ngã x, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để mua ma túy; đến nơi Dƣơng Trùng S2 đƣa cho Dƣơng Trùng S 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để đi mua ma túy, Dƣơng Trùng S nhận tiền và đi sang phía bên kia đƣờng, còn Dƣơng Trùng S2 đứng đợi, Dƣơng Trùng S sang gặp một ngƣời đàn ông lái xe ôm (không biết tên, tuổi, địa chỉ) mua 01 (một) gói ma túy Heroine với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Mua xong Dƣơng Trùng S cầm gói ma túy trên rồi cùng Dƣơng Trùng S2 đón xe khách về thôn T, xã X, huyện C thì cùng nhau chia số ma túy trên thành 30 (ba mƣơi) gói ma túy nhỏ, cả hai thỏa thuận với nhau: Dƣơng Trùng S cầm 20 (hai mƣơi) gói ma túy để bán và sử dụng, khi nào bán đƣợc ma túy thì đƣa tiền cho Dƣơng Trùng S2 và Dƣơng Trùng S2 trả công cho Dƣơng Trùng S bằng cách cho ma túy để sử dụng. Số ma túy này ngày 19/10/2022, Dƣơng Trùng S đã bán cho Dƣơng Cƣờng Ph, sinh năm 1999, trú tại: Thôn Ba Sơn, xã Xuất Lễ, huyện Cao Lộc 02 (hai) gói với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); bán cho Phạm Thế H, sinh năm 1990, trú tại: Thôn P, xã X, huyện C 02 (hai) gói với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); Dƣơng Trùng S đã sử dụng hết 07 (bảy) gói, còn lại 09 (chín) gói ma túy Dƣơng Trùng S cất giấu trong túi quần bên phải của Dƣơng Trùng S với mục đích có ngƣời nghiện hỏi mua thì bán, khi Dƣơng Trùng S đang đi bộ trên đƣờng thuộc thôn P, xã X, huyện Cao Lộc thì bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang nhƣ trên. Còn Dƣơng Trùng S2 cầm 10 (mƣời) gói ma túy với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, tuy nhiên số ma túy này Dƣơng Trùng S2 đã sử dụng hết.
Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho Dƣơng Trùng S ở khu vực ngã x, phƣờng T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn không biết tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với Dƣơng Cƣờng Ph và Phạm Thế H là những ngƣời nghiện ma túy, cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai các đối tƣợng thừa nhận đã mua ma túy của bị cáo Dƣơng Trùng S về sử dụng cho bản thân, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau theo quy định pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 03 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân nhƣ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo nhƣ Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dƣơng Trùng S, xử phạt bị cáo Dƣơng Trùng S từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù giam.
Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dƣơng Trùng S2, xử phạt bị cáo Dƣơng Trùng S2 từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Dƣơng Trùng S2, cụ thể phạt bị cáo Dƣơng Trùng S2 từ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nƣớc. Đối với bị cáo Dƣơng Trùng S đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ "QUẢ TANG DƢƠNG TRÙNG S", có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,188 gam Heroine.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Dƣơng Trùng S do bán ma túy mà có.
Trả lại cho bị cáo Dƣơng Trùng S 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu đen, có số IMEI: 868683041051917; 01 (một) căn cƣớc công dân mang tên Dƣơng Trùng S và 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam.
Trả lại cho bị cáo Dƣơng Trùng S2 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, nhƣng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án các bị cáo thuộc trƣờng hợp đƣợc miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo Dƣơng Trùng S nhất trí với tội danh, điều luật Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bản thân bị cáo là ngƣời dân tộc thiểu số sống tại vùng điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự - xử phạt bị cáo mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; trả lại cho bị cáo 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng), 01 (một) căn cƣớc công dân mang tên Dƣơng Trùng S; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và cho bị cáo đƣợc miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo Dƣơng Trùng S2 cũng nhất trí với tội danh, điều luật Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bản thân bị cáo là ngƣời dân tộc thiểu số sống tại vùng điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự - xử phạt bị cáo mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; trả lại cho bị cáo 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng); đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và cho bị cáo miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 không bổ sung gì ý kiến của ngƣời bào chữa và không có ý kiến tranh luận, nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày: Đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa ngƣời làm chứng anh Dƣơng Cƣờng Ph, anh Phạm Thế H và ngƣời chứng kiến ông Trƣơng Văn H vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của những ngƣời làm chứng và ngƣời chứng kiến không ảnh hƣởng đến việc xét xử vì trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ngƣời làm chứng và ngƣời chứng kiến theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Hồi 13 giờ 00 ngày 19/10/2022 tổ công tác Công an xã Xuất Lễ phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Cao Lộc làm nhiệm vụ tại thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Dƣơng Trùng S, thu giữ trong túi quần bên phải của Dƣơng Trùng S 09 (chín) gói ma túy Heroine có tổng khối lƣợng là 0,208 gam (đã trừ bì). Số ma túy này là số ma túy còn lại trong tổng số 30 gói ma túy Dƣơng Trùng S và Dƣơng Trùng S2 mua về để bán và sử dụng, cả hai đã sử dụng hết 17 (mƣời bảy) gói và ngày 19/10/2022 Dƣơng Trùng S đã bán ma túy cho Dƣơng Cƣờng Ph 02 (hai) gói với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và bán cho Phạm Thế H 02 (hai) gói với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Khi phạm tội các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do vậy các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 có đủ khả năng để nhận thức việc mua bán trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 thuộc trƣờng hợp rất nghiêm trọng, việc mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nƣớc về ma túy, do đó cần phải có mức hình phạt tƣơng xứng đủ sức răn đe đối với bị cáo.
Vụ án này có đồng phạm nhƣng mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ. Xét về vai trò thì thấy: Sau khi thống nhất cùng nhau mua ma túy về chia nhỏ để sử dụng và bán lại kiếm lời, bị cáo Dƣơng Trùng S2 là ngƣời bỏ tiền ra đƣa cho Dƣơng Trùng S 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để đi mua ma túy, sau khi mua đƣợc ma túy cả hai bị cáo đón xe khách về thôn T, xã X, huyện C và cùng nhau chia số ma túy trên thành 30 (ba mƣơi) gói ma túy nhỏ, cả hai thỏa thuận với nhau: Dƣơng Trùng S cầm 20 (hai mƣơi) gói ma túy để bán và sử dụng, khi nào bán đƣợc ma túy thì đƣa tiền cho Dƣơng Trùng S2 và Dƣơng Trùng S2 trả công cho Dƣơng Trùng S bằng cách cho ma túy để sử dụng, nhƣ vậy cả hai bị cáo đều có vai trò ngang nhau.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bản thân các bị cáo đều là ngƣời dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên hai bị cáo đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo chƣa bị kết án, chƣa bị xử lý kỷ luật, chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính, xác định là ngƣời có nhân thân tốt.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với các bị cáo cũng nhƣ phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy mục đích của các bị cáo là mua bán ma túy để kiếm lời và sử dụng, nên cần phải áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền để đảm bảo tính răn đe và giáo dục đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ "QUẢ TANG DƢƠNG TRÙNG S", có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,188 gam Heroine là chất cấm lƣu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu đen, có số IMEI: 868683041051917; 01 (một) căn cƣớc công dân mang tên Dƣơng Trùng S là tài sản và giấy tờ tùy thân của bị cáo Dƣơng Trùng S, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo Dƣơng Trùng S.
Đối với số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam thu của bị cáo Dƣơng Trùng S2, không liên quan đến vụ án, trả lại cho bị cáo Dƣơng Trùng S2.
Đối với số tiền 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng) thu của bị cáo Dƣơng Trùng S, xác định có 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo Dƣơng Trùng S bán ma túy mà có, nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), còn 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) không liên quan đến vụ án, trả lại cho bị cáo Dƣơng Trùng S.
Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho Dƣơng Trùng S ở khu vực ngã sáu, phƣờng Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn không biết tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc không có căn cứ để điều tra làm rõ. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Dƣơng Cƣờng Ph và Phạm Thế H là những ngƣời nghiện ma túy, cơ quan điều tra đã triệu tập ghi lời khai các đối tƣợng thừa nhận đã mua ma túy của bị cáo Dƣơng Trùng S về sử dụng cho bản thân, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau theo quy định pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên đƣợc chấp nhận. Đối với hình phạt bổ sung Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét.
Ý kiến của ngƣời bào chữa cho các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 phù hợp về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng và án phí với nhận định của Hội đồng xét xử, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với hình phạt bổ sung Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét.
Về án phí: Bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 là ngƣời dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; các bị cáo có đơn xin miễn tiền án phí, nên các bị cáo đƣợc miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
+ Xử phạt bị cáo Dƣơng Trùng S 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2022.
+ Xử phạt bị cáo Dƣơng Trùng S2 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2022.
- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 mỗi bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nƣớc.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ "QUẢ TANG DƢƠNG TRÙNG S", có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,188 gam Heroine.
- Trả lại cho bị cáo Dƣơng Trùng S 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu đen, có số IMEI: 868683041051917; 01 (một) căn cƣớc công dân mang tên Dƣơng Trùng S.
- Trả lại cho bị cáo Dƣơng Trùng S2 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam.
- Trả lại cho bị cáo Dƣơng Trùng S 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Dƣơng Trùng S.
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2023).
4. Về án phí: Các bị cáo Dƣơng Trùng S, Dƣơng Trùng S2 đƣợc miễn 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tƣ pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Đội TH Công an H. Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS H. Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Duyện |