- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Quyết định số 326/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý chi…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN -------------- Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 29/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Lệ Hằng
- Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng Thảo và ông Thái Doãn Quỳnh
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 29/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2023/HSST ngày 13/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST – HS ngày 13/3/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1998; Nơi cư trú: Thôn 4, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Nguyễn Văn H; Con bà: Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện A, tỉnh Nghệ An - Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn N – Sinh năm: 1998 - Nơi cư trú: Thôn 4, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Dương Văn T – Sinh năm: 1993 - Nơi cư trú: Thôn 4, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ, ngày 25/01/2023, Nguyễn Văn M sử dụng xe máy hãng Yamaha, nhãn hiệu Exiter, màu đen vàng, biển kiểm soát 37M1-122.42 rủ Dương Văn T đi lên xã T để chơi, khi đến cổng chào thôn 8, xã T, anh T nói dừng lại để đi vệ sinh thì M dừng xe để T xuống và nói với T:“đứng chờ em tý, em quay lại” và M một mình điều khiển xe máy quay lại cách cổng chào thôn 8 khoảng 100 m gặp một nam thanh niên lạ mặt, đeo khẩu trang, dáng cao khoảng 1,7m, đang đứng bên đường, M đi đến và hỏi “Có biết ở đâu bán ma túy không” thì nam thanh niên đó trả lời “mua hàng gì, mua bao nhiêu”, M trả lời “mua hồng phiến, 1.000.000 đồng”. M đưa tiền cho nam thanh niên đó để đi lấy hồng phiến, khoảng 05 phút sau nam thanh niên lạ mặt quay lại đưa cho M 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói ni lông bọc 08 viên hồng phiến. Sau khi kiểm tra xong đúng ma túy hồng phiến, M bỏ vào túi áo khoác bên trái đang mặc và điều khiển xe máy quay lại chỗ T đang đứng chờ. M nói T điều khiển xe máy, còn M ngồi phía sau xe, khi đang chuẩn bị quay xe máy đi về thì M và T bị tổ công tác Công An huyện A kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Nguyễn Văn M 01 gói thuốc lá Thăng long, bên trong có 01 gói nhỏ ni lông màu hồng chứa 08 viên nén màu hồng, hình dạng tròn giống nhau (nghi là ma túy tổng hợp); 01 xe máy hãng Yamaha nhãn hiệu Exiter màu màu sơn đen vàng, Biển kiểm soát 37M1-122.42 (Bút lục 19,20).
Cơ quan CSĐT đã thành lập hội đồng niêm phong mở vật chứng thu giữ được của Nguyễn Văn M để xác định khối lượng và giám định chất ma túy. Quá trình mở niêm phong xác định được: 08 viên nén màu hồng, hình dạng tròn giống nhau có khối lượng 0,8 gam (Không phẩy tám gam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,2 gam (Không phẩy hai gam) trong tổng số 08 viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn M, bỏ vào trong phong bì niêm phong lại, ghi ký hiệu M, gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Nghệ An để trưng cầu giám định về chất ma túy (Bút lục 40); 06 viên nén màu hồng còn lại, có khối lượng 0,6 (Không phẩy sáu gam) hội đồng đã niêm phong lại theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 135/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 30/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận:
- Mẫu viên nén hình dạng tròn, màu hồng có kích thước giống nhau thu giữ của Nguyễn Văn M gửi tới giám định là ma túy Methamphetamine.
- 08 viên nén hình dạng tròn, màu hồng có kích thước giống nhau thu giữ của Nguyễn Văn M có tổng khối lượng 0,8 gam (Không phẩy tám gam).
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 10/CTr-VKS-AS ngày 08/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M từ 13 tháng – 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2023.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 06 viên nén màu hồng ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,6 gam (Không phẩy sáu gam).
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn M không tranh luận gì với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo nói: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho chị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tuy nhiên trong quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của họ. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự là có căn cứ.
Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tôi như sau:
Vào khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 25/01/2023, tại thôn 8, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người bị cáo 0,8 gam (Không phẩy tám gam) ma túy Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác Công an huyện A phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói thuốc lá Thăng long, bên trong có 01 gói nhỏ ni lông màu hồng chứa 08 viên nén màu hồng, hình dạng tròn giống nhau; 01 xe máy hãng Yamaha, nhãn hiệu Exiter, màu sơn đen vàng, biển kiểm soát 37M1-122.42.
Tại bản kết luận giám định số 135/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 30/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận:
- Mẫu viên nén hình dạng tròn, màu hồng có kích thước giống nhau thu giữ của Nguyễn Văn M gửi tới giám định là ma túy Methamphetamine.
- 08 viên nén hình dạng tròn, màu hồng có kích thước giống nhau thu giữ của Nguyễn Văn M có tổng khối lượng 0,8 gam (Không phẩy tám gam).
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo thực hiện phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích phạm tội là nhằm để sử dụng để thỏa mãn nhu cầu trái pháp luật của bản thân. Thời điểm bị cáo thực hiện phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là gây tác hại đến sức khoẻ, làm băng hoại giá trị đạo đức cũng như lối sống của chính bản thân bị cáo. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm nhằm đấu tranh riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bên cạnh đó, bố bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước của đồng bào công giáo xã H được tặng giấy khen và có ông nội là người có công với cách mạng được tặng Bằng khen. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người lần đầu phạm tội. Nhưng cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để bị cáo có thời gian được cải tạo, giáo dục trong môi trường pháp luật nghiêm khắc hơn, để khi trở về với gia đình và xã hội bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bị cáo đang sống phụ thuộc cha mẹ, không có tài sản riêng gì. Mặt khác bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý với mục đích là để sử dụng, không có mục đích thu lợi bất chính nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
Về hành vi liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo: Trong vụ án này, còn có người đàn ông là đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo nhưng trong quá trình điều tra không xác định được lý lịch cụ thể và anh Nguyễn Văn N là người cho bị cáo mượn xe máy nhưng anh N không biết bị cáo sử dụng xe máy đi mua ma túy. Nên cơ quan CSĐT Công an huyện A, tỉnh Nghệ An không xử lý hình sự là đúng pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Thu giữ của Nguyễn Văn M 08 viên ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,8 gam, đã sử dụng giám định hết 02 viên, có khối lượng 0,2 gam. Số ma túy còn lại là 06 viên có khối lượng 0,6 gam là loại hàng nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy hãng Yamaha, nhãn hiệu Exiter, màu sơn đen vàng, biển kiểm soát 37M1-122.41 mà Nguyễn Văn M sử dụng đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định được là của anh Nguyễn Văn N nhưng anh N không biết M mượn xe máy sử dụng để đi mua ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện A đã trả lại chiếc xe máy cho anh Nguyễn Văn N là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2/ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 25/01/2023).
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn M.
3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 06 viên ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,6 gam thu giữ của Nguyễn Văn M (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2023 giữa Công an huyện A, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện A, tỉnh Nghệ An).
4/ Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2017/QH14.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện A; - Công an huyện A; - THA huyện A; - Bị cáo; - Lưu HS, VP; | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Lệ Hằng |