- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị L xin ly hôn với anh Đinh Xuân H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L. Xử cho chị Trần Thị L ly hôn anh Đinh Xuân H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ - ST Ngày: 28 - 02 - 2023 V/v tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thắng.
2. Ông Vũ An Quản.
-Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Cao Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân tp Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương - tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thanh- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 662/2022/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1986.
2. Bị đơn: Anh Đinh Xuân H, sinh năm 1981.
Đều trú tại: Thôn K, phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
(Chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Trần Thị L trình bày: Chị và anh Đinh Xuân H sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện ĐKKH tại UBND phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ngày 21 tháng 3 năm 2008. Sau ngày cưới vợ chồng ăn ở chung với bố mẹ chồng tại thôn L, phường T, tp Hải Dương, tỉnh Hải Dương được 01 năm thì mua được đất ở cùng thôn và làm nhà ra ở riêng luôn. Cả hai đều lao động tự do. Vợ chồng hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh H sống thiếu trách nhiệm với vợ con, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, chị có nhờ chính quyền địa phương tham gia hòa giải nhưng anh H vẫn không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2020 cho tới nay, tuy sống cùng một nhà nhưng không ai quan tâm gì tới ai. Nay chị thấy không thể tiếp tục chung sống được với anh H, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Có hai con chung là Đinh Đức Hoàng A, sinh ngày 13/7/2008 và Đinh Thị Phương A, sinh ngày 25/9/2009. Hiện nay cả hai con đang ở với anh chị, ly hôn chị đề nghị mỗi người nuôi một con, chị nuôi con Phương A còn anh Hiệp nuôi con Hoàng A, không ai phải cấp dưỡng cho ai.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản, tài liệu hợp lệ cho bị đơn là anh Đinh Xuân H và nhiều lần triệu tập anh H đến Tòa án giải quyết vụ ly hôn nhưng anh H không đến Tòa án làm việc.
Tòa án cũng tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của chị Loan, anh Hiệp. Tại biên bản xác minh ngày 12/01/2023, ông trưởng khu K, phường T xác định: Anh H vẫn cùng chung sống với chị L tại địa phương, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nay chị L xin ly hôn với anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Nguyện vọng của con Đinh Đức Hoàng A muốn ở với anh Hiệp; con Đinh Thị Phương A muốn ở với chị L.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 13 tháng 02 năm 2022, anh H đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa: Chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt giữ nguyên yêu cầu giải quyết ly hôn với anh H và đề nghị được nuôi con Đinh Thị Phương A, sinh ngày 25/9/2009; anh H nuôi con Đinh Đức Hoàng A, sinh ngày 13/7/2008, không ai phải cấp dưỡng cho ai. Anh H vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương có quan điểm xác định việc Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Trong thời hạn giải quyết vụ án, các bên đương sự không tự thỏa thuận được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đưa vụ án ra xét xử. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các điều 70, 71 của BLTTDS; đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của BLTTDS. Tại phiên tòa, chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do, HĐXX đã căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị L, anh H là đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí toà án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị L, đề nghị xử cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Đinh Xuân H; Về con chung: Giao cho chị Trần Thị L nuôi Đinh Thị Phương A, sinh ngày 25/9/2009; anh H nuôi con Đinh Đức Hoàng A, sinh ngày 13/7/2008 cho đến khi con đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng cho ai và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:
Về tố tụng: Anh Đinh Xuân H đã được Tòa án giao thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh H vắng mặt, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn là chị Trần Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đinh Xuân H vắng mặt không có lý do, nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh H .
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Đinh Xuân H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ngày 21 tháng 3 năm 2008. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị L anh H là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của chị L, biên bản xác minh tại địa phương có căn cứ xác định trong cuộc sống anh chị đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp trong cuộc sống, không tôn trọng nhau. Từ tháng 01/2020 đến nay, anh chị đã sống ly thân sống cùng một nhà nhưng không ai có trách nhiệm với ai, việc của ai người đó làm. Anh H cũng không có thiện chí đoàn tụ cùng chị L, điều này thể hiện trong quá trình anh chị sống ly thân, cả hai không quan tâm đến nhau và anh H cũng không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H đã nhiều lần được Tòa án triệu tập để lấy lời khai, đồng thời hòa giải việc ly hôn với chị L nhưng anh H không đến, cũng không thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ các điều: 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Trần Thị L ly hôn với anh Đinh Xuân H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Trần Quốc K, sinh ngày 22/8/2008 và Trần Khánh U, sinh ngày 13/10/2013. Hiện nay cả hai con đều đang ở với anh, chị. Chị L đề nghị mỗi người nuôi một con, chị nuôi con U còn anh H nuôi con K, điều này cũng phù hợp với nguyê ên vọng hai con và tình trạng thực tế hiê ên nay của hai bên để đảm bảo quyền lợi cho con. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều nhưng anh H không đến Tòa án làm việc và cũng không có quan điểm của mình. Như vậy, anh H đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, HĐXX thấy cần giao con U cho chị Loan trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, con K cho anh H trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, hai bên không phải cấp dưỡng cho nhau. Điều đó hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, phù hợp với đề nghị của đại diện VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Như vậy là phù hợp các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ tài sản chung: Chị L, anh H đều không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
Về án phí: Chị L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L. Xử cho chị Trần Thị L ly hôn anh Đinh Xuân H.
2. Về con chung: Xử giao cho chị Trần Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Trần Khánh U, sinh ngày 13/10/2013, giao cho anh Đinh Xuân H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Trần Quốc K, sinh ngày 22/8/2008 (hiện cả hai con đang ở với anh, chị) cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị L, anh H không ai phải cấp dưỡng cho ai và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) được đối trừ số tiền chị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0002473 ngày 15/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (chị L nộp biên lai cho Tòa án ngày 20/12/2022).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND tp Hải Dương; - Các đương sự; - UBND phường T; - Chi cục THADS tp. Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Tú |