vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thu H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Phạm Văn K. Về con chung: Giao cháu Phạm Trần Khánh M, sinh ngày 12/7/2014 cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thu H - Phạm Văn K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY ĐỨC
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16-6-2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triệu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Lưu Ngọc Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Điểu Smi - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/02/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1991 – có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 1, xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1985 – có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 1, xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Thu H trình bày: Chị H và anh K kết hôn năm 2013 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông, việc kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, nên vợ chồng thường hay cãi vã xúc phạm lẫn nhau. Do mâu thuẫn không thể hàn gắn vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay.

Chị H cho rằng tình cảm đối với anh K không còn, hai bên đã không còn quan tâm gì đến nhau, cuộc sống hôn nhân của anh chị không thể hoà hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức giải quyết cho ly hôn với anh K.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Trần Khánh M, sinh ngày 12/7/2014. Chị H đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lời khai của anh Phạm Văn K trong quá trình giải quyết vụ án: Anh K thừa nhận việc kết hôn với chị Trần Thị Thu H, có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện như chị H trình bày. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Trần Khánh M, sinh ngày 12/7/2014.

Anh K hoàn toàn đồng ý với ý kiến của chị H về mâu thuẫn của vợ chồng. Anh K khẳng định đã ly thân với chị H từ năm 2016, tình cảm vợ chồng với chị H không còn nên anh cũng đồng ý ly hôn. Anh K đồng ý giao con chung là cháu Phạm Trần Khánh M, sinh ngày 12/7/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức phát biểu quan điểm: Toà án nhân dân huyện Tuy Đức thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về người tham gia tố tụng và thu thập chứng cứ: Toà án xác định đúng người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng đúng quy định, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thu H, cho chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Phạm Văn K.

Về con chung: Đề nghị giao cháu Phạm Trần Khánh M, sinh ngày 12/7/2014 cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0002514 ngày 20/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết vào quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn K có nơi cư trú tại thôn 1, xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông do đó đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của chị H với anh K, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 10/5/2013, chị Trần Thị Thu H và anh Phạm Văn K tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh K là hợp pháp.

Xét thấy, cả chị H và anh K đều cho rằng cuộc sống chung xảy ra nhiều mâu thuẫn kéo dài và đã sống ly thân từ năm 2016, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Chị H khẳng định hiện nay không còn tình cảm và không còn quan tâm đến anh K nên yêu cầu giải quyết ly hôn, anh K cũng đồng ý ly hôn với chị H. Hội đồng xét xử xét thấy, với thực trạng hôn nhân nói trên cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh K đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị H với anh K là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Trần Thị Thu H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là Phạm Trần Khánh M, sinh ngày 12/7/2014 đến tuổi trưởng thành, anh Phạm Văn K cũng đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thu H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Phạm Văn K.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Trần Khánh M, sinh ngày 12/7/2014 cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Anh Phạm Văn K có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai có quyền ngăn cản. Nếu anh K lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con là chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh K.

Chị Trần Thị Thu H, anh Phạm Văn K có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng khi cần thiết.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0002514 ngày 20/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ