vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Sơn Thị L được ly hôn với bị đơn anh Lâm U.

Về quyền nuôi con: Giao chị Sơn Thị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lâm Thị T, sinh ngày 01/01/2007 và Lâm T, sinh ngày 01/01/2009 đến khi các con đủ 18 tuổi. Anh Lâm U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, đương sự không yêu cầu nên khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con giữa Sơn Thị L - Lâm U"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Sơn Thị L được ly hôn với bị đơn anh Lâm U.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH T
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-3-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH T, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hải.

Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Sơn Thị L, sinh ngày 01/01/1984 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Ba L, xã Kế T, huyện Kế S, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Lâm U, sinh năm 1981 (vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Tân L, xã Thạnh T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Sơn Thị L trình bày:

Chị và anh Lâm U có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Thạnh T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/7/2006. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, thường hay cải vả dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc và đã sống ly thân đến nay không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Chị L yêu cầu ly hôn với anh U và yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung tên Lâm Thị T, sinh ngày 01/01/2007 và Lâm T, sinh ngày 01/01/2009 cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Lâm U cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/02/2023 anh Lâm U trình bày:

Anh thống nhất với chị L về quan hệ hôn nhân, con chung. Anh đồng ý ly hôn với chị L do tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Về con chung, anh yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung tên Lâm Thị T, sinh ngày 01/01/2007 và Lâm T, sinh ngày 01/01/2009 cho khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu xem xét, giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho chị L được ly hôn với anh U; Về con chung, giao cho chị L được quyền nuôi dưỡng con chung Lâm Thị T và Lâm T cho đến khi các con đủ 18 tuổi, cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Tài sản chung và nợ chung, đương sự trình bày không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị L yêu cầu ly hôn với anh U. Quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh U có đơn xin vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh U.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 11/7/2006 của Ủy ban nhân dân xã Thạnh T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng thể hiện, chị L và anh U có đăng ký kết hôn, do vậy hôn nhân hợp pháp. Lời trình bày của chị L và anh U trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến nên ly thân từ năm 2017 đến nay. Sau ly thân, vợ chồng không còn quan tâm thăm hỏi, lo lắng cho nhau, không còn tình thương yêu vợ chồng. Chị L xin ly hôn thì anh U cũng đồng ý ly hôn. Mặt khác, thời gian vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay, mạnh người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, không làm tròn nghĩa vụ của vợ chồng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh U và chị L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị L xin ly hôn là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh U.

Về con chung: Chị L và anh U thống nhất trình bày, quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung tên Lâm Thị T, sinh ngày 01/01/2007 và Lâm T, sinh ngày 01/01/2009 hiện đang sống cùng chị L. Chị L và anh U đều yêu cầu được nuôi dưỡng hai con, xét các con sống với chị L đã ổn định về vật chất, lẫn tinh thần và các con đều có nguyện vọng sống với chị L, nên yêu cầu của chị L xin nuôi con là phù hợp, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định“Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;…” nên Hội đồng xét xử giao con cho chị L nuôi dưỡng. Anh U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con không xem xét do chị L không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh U trình bày không có và không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị L người yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị có căn cứ pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Sơn Thị L được ly hôn với bị đơn anh Lâm U.

2. Về quyền nuôi con: Giao chị Sơn Thị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lâm Thị T, sinh ngày 01/01/2007 và Lâm T, sinh ngày 01/01/2009 đến khi các con đủ 18 tuổi. Anh Lâm U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết do đương sự không có yêu cầu.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Sơn Thị L nộp án phí số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0002897 ngày 10/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng, chị L đã nộp xong án phí.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ