vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Duy Kh.

Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 13/3/2019; anh Nguyễn Duy Kh tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo M, sinh ngày 19/9/2011. Chị L, anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung; không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Các… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Duy Kh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM DƯƠNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 4 - 2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hanh và bà Nguyễn Thị Nghị

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Việt Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 272/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1992, có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Duy Kh, sinh năm 1992, vắng mặt

Đều cư trú: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Nguyễn Duy Kh kết hôn ngày 16/02/2012, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị về sống chung cùng gia đình anh Kh tại thôn N, xã A, huyện T. Quá trình chung sống, đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, xô xát, từ tháng 8/2020 chị bỏ ra ngoài ở riêng, vợ chồng sống ly thân, không ai có trách nhiệm gì đến nhau. Chị xác định tình cảm không còn, không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Kh.

Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị và anh Kh có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo M, sinh ngày 19/9/2011 và cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 13/3/2019, hiện đang ở cùng anh Kh. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu H, anh Kh nuôi cháu M, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Duy Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không lấy được lời khai.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, cho chị L được ly hôn anh Nguyễn Duy Kh; Giao cho chị L nuôi cháu H; anh Kh nuôi cháu M; chị L và anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Duy Kh; anh Kh có nơi cư trú tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Nguyễn Duy Kh, mặc dù anh Kh có mặt tại địa phương nhưng anh Kh không đến Tòa án để làm việc. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Duy Kh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Từ tháng 8/2020 anh chị sống ly thân, không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập anh Kh nhiều lần nhưng anh Kh không hợp tác, không đến Tòa để làm việc nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Quá trình làm việc tại địa phương, thể hiện: Anh Kh đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, hiện anh Kh cùng hai con chung của anh chị ở cùng bố mẹ đẻ anh Kh tại thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, anh Kh lao động tự do, thường xuyên ở nhà.

Xét thấy: Chị L và anh Kh đã ly thân trong thời gian dài, trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh Kh đều vắng mặt. Chứng tỏ hôn nhân của chị L và anh Kh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L ly hôn anh Kh là phù hợp.

. Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị L và anh Kh có 02 con chung, hiện đang ở cùng anh Kh. Ly hôn, chị L yêu cầu Tòa án giao cho chị được nuôi cháu H, anh Kh nuôi cháu M, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa, chị L trình bày chị đang làm chủ một xưởng may ở thôn Y, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội thu nhập trung bình 20.000.000đ/tháng.

Xét thấy: Chị L và anh Kh đều có chỗ ở ổn định và có thu nhập, đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi của hai bên và các con chung cần giao cho chị L nuôi cháu H, anh Kh nuôi cháu M, không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

. Về quan hệ tài sản: Chị L không yêu cầu giải quyết, đồng thời quá trình giải quyết vụ án anh Kh vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu của đương sự.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:

1. Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Duy Kh.

2. Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 13/3/2019; anh Nguyễn Duy Kh tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo M, sinh ngày 19/9/2011. Chị L, anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung; không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu về cấp dưỡng.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số: 0003223, ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ