- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Anh Thu và Ngô Hoàng P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Anh T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-02-2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Thanh Chiều.
Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh là thư ký Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 204/2022/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 11 năm 2022 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Anh T, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Ấp Phước T, xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: ấp Mang Cá, xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Ngô Hoàng P, sinh năm: 1987; Địa chỉ: Ấp Phước T, xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 11 năm 2022 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Anh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Anh T và anh Ngô Hoàng P tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng vào năm 2012. Hôn nhân của chị Trần Anh T và anh Ngô Hoàng P được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng chị Trần Anh T và anh Ngô Hoàng P chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị Tvà anh Phúc bất đồng về quan điểm sống, anh Phúc thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm chăm sóc cho gia đình, từ đó dẫn đến chị Tvà anh Phúc thường xuyên cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn thì chị Tvà anh Phúc có hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được, chị Tvà anh Phúc sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Hiện nay, chị Tsống tại nhà mẹ ruột ở ấp Mang Cá, xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, còn anh Ngô Hoàng P sống tại Ấp Phước T, xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Khi sống ly thân chị Thu, anh Phúc không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, mỗi người đều có công việc và cuộc sống riêng, không ai quan tâm chăm sóc cho ai. Nay chị Trần Anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng của chị và anh Phúc không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Hoàng P.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Thu, anh Phúc có 01 (một) con chung tên Ngô Thị Bảo Y(nữ, sinh ngày 07-11-2012), chị Tyêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Yđến đủ 18 (mười tám) tuổi và không yêu cầu anh Phúc cấp dưỡng nuôi cháu Yến.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ttự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Ngô Hoàng P: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Anh T tại Thông báo thụ lý vụ án số: 369/TB-TLVA, ngày 24 tháng 11 năm 2022 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Ngô Hoàng P, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Phúc đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Phúc đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Phúc nhưng anh Phúc không gửi văn bản ghi ý kiến của anh Phúc đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Trần Anh T.
Tại Biên bản ghi ý kiến của cháu Ngô Thị Bảo Y(nữ, sinh ngày 07-11-2012) lập ngày 16 tháng 12 năm 2022, cháu Ytrình bày như sau: Nếu cha mẹ ruột của cháu là chị Trần Anh T và anh Ngô Hoàng P không còn sống chung với nhau thì cháu Ycó nguyện vọng được sống cùng mẹ là chị Trần Anh T, vì chị Tquan tâm, chăm sóc cháu và hiện nay cháu Yhọc hành ổn định và cháu Ykhông yêu cầu gì đối với cha là anh Ngô Hoàng P.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Anh T, về việc chị Tyêu cầu ly hôn với anh Phúc và chị Tyêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Ngô Thị Bảo Y (nữ, sinh ngày 07-11-2012) cho đến khi cháu Y đủ 18 (mười tám) tuổi và không yêu cầu anh Phúc cấp dưỡng nuôi con. Còn về tài sản chung, nợ chung chị T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Anh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Trần Anh T vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 09-02-2023); Bị đơn anh Ngô Hoàng P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Trần Anh T và bị đơn anh Ngô Hoàng P, có nơi cư trú tại Ấp Phước T, xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Anh T và anh Ngô Hoàng P xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó việc chị Trần Anh T và anh Ngô Hoàng P tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2012 là hoàn toàn đúng theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.
Trong quá trình chung sống theo chị Ttrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân, anh Phúc thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm chăm sóc cho gia đình. Chị Tvà anh Phúc đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn chị Tvà anh Phúc đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng cũng như muốn cho cháu Ycó được một gia đình có đủ cả cha lẫn mẹ nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện chị Tsống tại nhà mẹ ruột ở ấp Mang Cá, xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, còn anh Ngô Hoàng P sống tại Ấp Phước T, xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Tvẫn cương quyết xin ly hôn với anh Ngô Hoàng P. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa chị Tvà anh Phúc đã đến mức trầm trọng, hiện nay chị Tvà anh Phúc không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Anh T được ly hôn với anh Ngô Hoàng P.
[2.2] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Trần Anh T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Ngô Thị Bảo Y(nữ, sinh ngày 07-11-2012) đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Ythì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị Trần Anh T.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Ngô Thị Bảo Ynên việc giao cháu Ycho chị Ttrực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Ngô Thị Bảo Ycho chị Ttiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Yđủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Ngô Hoàng P được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Phúc thực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Phúc là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Ttrình bày, hiện tại chị Tcó việc làm ổn định, thu nhập hàng tháng đủ nuôi con nên chị Tkhông yêu cầu anh Phúc cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị Trần Anh T tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về nợ chung: Chị Trần Anh T tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Anh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Anh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Anh T được ly hôn với anh Ngô Hoàng P.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung tên Ngô Thị Bảo Y(nữ, sinh ngày 07-11-2012) cho chị Trần Anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ngô Thị Bảo Y(nữ, sinh ngày 07-11-2012) đủ 18 (mười tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Ngô Hoàng P không cấp dưỡng nuôi cháu Ngô Thị Bảo Y(nữ, sinh ngày 07-11-2012).
2.3 Sau khi ly hôn, anh Ngô Hoàng P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Ngô Thị Bảo Y(nữ, sinh ngày 07-11-2012), chị Trần Anh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Ngô Hoàng P không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Anh T tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Trần Anh T tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Anh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005317 ngày 23 tháng 11 năm 2022, chị Trần Anh T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA); - UBND xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |