- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Linh- Kỳ"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Trần Thị Thùy L được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17/02/2023 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Quyết Chiến
2. Bà Trần Thị Kim Khuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2022/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022 về việc:“Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thùy L, sinh năm 1993, có mặt.
Nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh V.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1985, vắng mặt.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 05/12/2022 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Trần Thị Thùy L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn K kết hôn ngày 18/9/2018. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và đăng kí kết hôn tại UBND xã T, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn, chị về làm dâu và chung sống cùng gia đình anh K khoảng 01 năm thì vợ chồng ở riêng. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh K thường xuyên chơi bời cờ bạc dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau và không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2021 đến nay. Gia đình hai bên có dàn xếp gì để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung, hiện nay chị không mang thai.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn K quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa vắng mặt, nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/12/2022, anh K trình bày: Về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, thời điểm sống ly thân như chị L trình bày là đúng. Nhưng theo anh quá trình vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn gì lớn mà đến ngày 19/10/2020 anh bị bắt vì tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và bị xử phạt 12 tháng tù. Trong quá trình anh đi chấp hành án thì chị L đã bỏ đi đâu anh không biết. Đến ngày 21/10/2021 anh ra tù thì chị L nộp đơn ly hôn. Từ khi ly thân hai bên gia đình có dàn xếp để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn anh đề nghị được đoàn tụ cùng chị L.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm về việc tuân thủ các quy định tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của chị Trần Thị Thùy L trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn K đã được triệu tập hợp lệ nhưng có lần vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận chị Trần Thị Thùy L được ly hôn anh Nguyễn Văn K. Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: các bên xác định không đề nghị nên không xem xét. Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của anh chị Trần Thị Thùy L và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án Hôn nhân và Gia đình là “Ly hôn,”. Bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Văn K có địa chỉ cư trú tại xã T, huyện Lập Thạch nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn là anh K nhưng anh K vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị Thùy L và anh Nguyễn Văn K là cuộc hôn nhân tiến bộ, hợp pháp, được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống theo như chị L trình bày: vợ chồng hòa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh K thường xuyên chơi bời cờ bạc dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau và không quan tâm chăm sóc lẫn nhau và vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 09/2021 cho đến nay. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị xin được ly hôn anh K. Theo như anh K trình bày: Vợ chồng anh chung sống không có mâu thuẫn gì lớn, thời gian anh đi chấp hành án phạt tù thì chị L đã bỏ đi đâu anh không biết. Đến ngày 21/10/2021 anh ra tù thì chị L nộp đơn ly hôn và vợ chồng cũng ly thân nhau từ đó cho đến nay, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên chị L xin ly hôn, anh xin đoàn tụ.
Xét tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh K đã trầm trọng, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc nhau, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng và đã có thời gian ly thân từ tháng 09 năm 2021 cho đến nay nên làm cho mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Anh K xin được đoàn tụ, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập anh K nhiều lần đến đề hòa giải nhưng anh K vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó, phần nào thể hiện anh K không thực tâm, không có nguyện vọng và biện pháp hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Do vậy đề nghị xin ly hôn của chị L là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Xử cho chị Trần Thị Thùy L được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
2. Về án phí: Chị Trần Thị Thùy L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0006511 ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lập Thạch.
Trong thời hạn 15 ngày kể tử ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lập Thạch; - Chi cục THADS Lập Thạch; - UBND xã T; - Đương sự; -Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Thị Nga |