- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị T đối với ông Lê Văn U
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 3 năm 2023 V/v " Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tán Nghị
2. Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 151/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn Hòa Khương Đông, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Văn U, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn Hòa Khương Đông, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
(Ông Lê Văn U hiện tại đang chấp hành án tại đội 23 phân trại K3 trại giam Nghĩa An - Bộ Công an) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 26 tháng 10 năm 2022, bản tự khai và trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tỏ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (Nguyễn Thị T) và ông Nguyễn Văn U xây dựng gia đình năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
Sau khi xây dựng gia đình vợ chồng chung sống tại thôn Hòa Khương Đông, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống vợ xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là ông Lê Văn U không làm tròn trách nhiệm của một người chồng, người cha, ông U thường xuyên chơi cờ bạc không chịu làm ăn, mặc dù được vợ con gia đình khuyên nhủ nhưng vẫn không thay đổi mà ngày càng lún sâu cờ bạc, trộm cắp tài sản vi phạm pháp luật.
Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Văn U.
- Về con chung: Tôi (Nguyễn Thị T) xác định vợ chồng có 01 (một) người con chung là Lê Thị Nhật L, sinh ngày 22/10/2006.
Ly hôn, tôi (Nguyễn Thị T) có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Lê Văn U đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác định không có.
* Tại các bản tự khai gửi đến Tòa án ngày 12 tháng 01 năm 2023 và ngày 27 tháng 3 năm 2023 của ông Lê Văn U thể hiện:
Vào năm 2006 tôi và vợ tôi là Nguyễn Thị T kết hôn và có một con chung, trong quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Hiện nay bà Nguyễn Thị T khởi kiện ly hôn thì tôi không đồng ý. Kính mong quý Tòa xem xét đến lúc tôi chấp hành xong án phạt tù rồi tiếp tục xử lý vụ việc.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên là Lê Thị Nhật L, sinh năm 2006.
Về tài sản chung có một ngôi nhà tại địa chỉ thôn Hòa Khương Đông, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang đã căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tòa án đã tiến hành việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng đảm bảo theo các Điều 171, 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của pháp luật.
- Đối với các đương sự:
+ Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng;
+ Bị đơn, mặc dù không tham gia phiên tòa nhưng đã có 02 bản tự khai gửi cho Tòa án trình bày ý kiến.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Văn U là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lê Văn U
Về con chung: Để đảm bảo cuộc sống của con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Lê Nguyễn Nhật L, sinh ngày 22/10/2006 cho Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông Lê Văn U đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập đến.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn U, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn Hòa Khương Đông, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điểu 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
- Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Lê Văn U tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông Lê Văn U vẫn vắng mặt. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Văn Út.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn U xây dựng gia đình với nhau vào đến năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với ông Lê Văn U, lý do là tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị T thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng yêu thương, chia sẻ, quan tâm nhau. Tuy nhiên theo bà Nguyễn Thị T thì trong thời gian chung sống với nhau giữa bà và ông Lê Văn U không có được những điều đó thể hiện ở việc vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau nguyên nhân là ông Lê Văn U không làm tròn trách nhiệm của một người chồng, người cha, ông Nguyễn Văn U thường xuyên chơi cờ bạc không chịu làm ăn, mặc dù được vợ con gia đình khuyên nhủ nhưng vẫn không thay đổi mà ngày càng lún sâu cờ bạc, trộm cắp tài sản vi phạm pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn U có gửi các bản tự khai đến Tòa án và cho răng vợ chồng không có mâu thuẫn gì nên ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn U là có thật điều này được thể hiện tại biên bản xác minh tại địa phương về quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn U, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Lê Văn U là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị T xác định bà và ông Lê Văn U có 01 (một) người con chung là Lê Thị Nhật L, sinh ngày 22/10/2006.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Lê Văn U đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Còn ông Lê Văn U không có có ý kiến đối với việc xin nuôi con của bà Nguyễn Thị T.
Xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo cuộc sống cũng như tương lai của con chung và điều kiện thực tế của mỗi bên. Hiện tại con chung đang được bà Nguyễn Thị T chăm sóc nuôi dưỡng, vì vậy cần giao con chung cho bà T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lê Thị Nhật L.
Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu ông Lê Văn U đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập đến.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều: 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị T đối với ông Lê Văn U
Tuyên Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lê Văn U.
2.Về quan hệ con chung: Giao con chung là Lê Thị Nhật L, sinh ngày 22/10/2006 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Ông Lê Văn U không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3.Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác đinh không có nên không đề cập giải quyết.
5.Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ bà Nguyễn Thị T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà T đã nộp tại biên lai thu số 0004659 ngày 26/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Như vậy bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình;
6.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Viện KSND huyện Hòa Vang; - UBND xã Hòa Nhơn; - Chi cục THADS huyện Hòa Vang; - Lưu Hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hữu Khánh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |