vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đoàn Thị Nam H và ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao các con chung là Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 11/3/2008 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 20/10/2009 cho bà Đoàn Thị Nam H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đoàn Thị Nam H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T; yêu cầu trực tiếp nuôi các con chung"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày : 10 - 4 - 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Trọng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Hữu Ái;

2. Ông Phan Quang Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My-Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Trâm-Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 26/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Nam H, sinh năm: 1979; địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn TM, huyện HT, tỉnh BT(vắng mặt);

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984; địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn TM, huyện HT, tỉnh BT(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 23/02/2023, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Đoàn Thị Nam H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Nam H và ông Nguyễn Văn T sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2007 đến nay tại Khu phố 3, thị trấn TM, huyện HT nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình sống chung, bà Hvà ông Tphát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nhiều lần mâu thuẫn ông Tbỏ nhà đi không lo cho con cái. Nguyên nhân là do ông Thay nhậu và ăn chơi, không quan tâm đến gia đình. Hiện nay bà Hkhông còn tình cảm với ông Tnữa. Do đó, bà Đoàn Thị Nam H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Bà Đoàn Thị Nam H và ông Nguyễn Văn T có với nhau 02 con chung gồm: Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 11/3/2008 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 20/10/2009. Khi ly hôn, bà Hyêu cầu Tòa án giao các con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Bà Đoàn Thị Nam H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông Nguyễn Văn T thống nhất với lời trình bày của bà Hvề quan hệ hôn nhân, ông và bà Hsống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2007 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, ông và bà Hcó 02 con chung nhưng hôn nhân không hạnh phúc vì vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Nay bà Hyêu cầu ly hôn với ông thì ông đồng ý.

Về con chung: Giữa ông và bà Hcó với nhau 02 con chung như bà Htrình bày. Khi ly hôn, ông đồng ý giao các con chung cho bà Htrực tiếp nuôi dưỡng. Ông Tkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của bà Hà.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: trình tự, thủ tục giải quyết vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đoàn Thị Nam H và ông Nguyễn Văn T, giao các con chung cho bà Đoàn Thị Nam H trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời quyết định án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Đoàn Thị Nam H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn T; yêu cầu Tòa án giao các con chung là Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 11/3/2008 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 20/10/2009 cho bà Htrực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con, do bị đơn có nơi cư trú tại Khu phố 3, thị trấn TM, huyện HT nên Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đoàn Thị Nam H và bị đơn ông Nguyễn Văn T đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Theo bà Đoàn Thị Nam H thì giữa bà và ông Nguyễn Văn T sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2007 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình sống chung, giữa bà Hvà ông Tphát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Do vậy, bà Hyêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Tý. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Hà, Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, lời khai của bị đơn, các giấy khai sinh của các con chung của bà Hvà ông Tý, Biên bản xác minh ngày 20/3/2023 tại Ủy ban nhân dân thị trấn TM của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, có cơ sở để khẳng định bà Hvà ông Tsống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2007 tại Khu phố 3, thị trấn TM nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Nam H, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Hvà ông Tnhư ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về con chung: Bà Đoàn Thị Nam H và ông Nguyễn Văn T có với nhau 02 con chung gồm: Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 11/3/2008 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 20/10/2009. Khi ly hôn, bà Hcó nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Xét điều kiện kinh tế của bà Hà, nguyện vọng của các con chung cũng như ý kiến của ông Tý, nghĩ nên giao các con chung cho bà Htrực tiếp nuôi dưỡng mới đảm bảo quyền lợi của các con.

[5] Về cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích quyền yêu cầu cấp dưỡng của bà Hđể bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà Hvẫn không yêu cầu Tòa án buộc ông Tcấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về án phí: Bà Đoàn Thị Nam H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 14, Điều 15, Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đoàn Thị Nam H và ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao các con chung là Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 11/3/2008 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 20/10/2009 cho bà Đoàn Thị Nam H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của các con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Bà Đoàn Thị Nam H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Hđã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010592 ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Tân. Bà Đoàn Thị Nam H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

6. Án xử công khai sơ thẩm, bà Đoàn Thị Nam H, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ