vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị Kim D và anh Vũ Hồng S.

Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Hồng Q, sinh ngày 27/12/2020 cho chị Đỗ Thị Kim D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị D tự nguyện không yêu cầu. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: Không đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị Kim D và anh Vũ Hồng S.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐOAN HÙNG
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 3 - 2023
V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình

Ông Nguyễn Việt Tùng

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2023/ TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 1 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXX-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Kim D, sinh năm 2001.

ĐKHKTT: Khu 6, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Khu 3, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

- Bị đơn: Anh Vũ Hồng S, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Khu 6, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

(Chị D, anh S có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim D trình bày: Chị và anh Vũ Hồng S kết hôn với nhau ngày 08/6/2020 trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng ở cùng gia đình anh S tại Khu 6, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống hai vợ chồng hòa thuận đến giữa năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do hai vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi vã, xô xát, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Sau đó chị dọn về nhà mẹ đẻ ở Khu 3, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng đã sống ly thân kể từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S.

- Về con chung: Chị và anh S có 01 con chung là Vũ Hồng Q, sinh ngày 27/12/2020. Hiện cháu Q đang ở cùng anh S và gia đình anh S. Chị đã nhiều lần về đón con nhưng anh S và gia đình anh S không đồng ý, ngăn cản, gây khó khăn không cho chị đón con. Sau ly hôn chị D có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Q, vì hiện nay cháu Q còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi, rất cần sự quan tâm, chăm sóc của chị. Chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Vũ Hồng S trình bày: Anh và chị D kết hôn với nhau ngày 08/6/2020 trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng ở cùng gia đình anh tại Khu 6, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống hai vợ chồng hòa thuận đến giữa năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do hai vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi vã, xô xát, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Sau đó chị D dọn về nhà mẹ đẻ ở Khu 3, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng đã sống ly thân kể từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị D đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Anh đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh và chị D có 01 con chung là Vũ Hồng Q, sinh ngày 27/12/2020. Hiện cháu đang ở cùng anh và gia đình anh. Sau ly hôn anh S có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Q. Không yêu cầu chị D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Qúa trình giải quyết vụ án tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

3. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, Khoản 1 điều 51, Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng¸ án phí, lệ phí toà án:

+ Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị Kim D và anh Vũ Hồng S.

+ Về con chung: Giao cháu Vũ Hồng Q cho chị Đỗ Thị Kim D nuôi dưỡng, anh Vũ Hồng S không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị D tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là chị Đỗ Thị Kim D và bị đơn là anh Vũ Hồng S đều có nơi cư trú tại Khu 6, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

. Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Kim D và anh Vũ Hồng S là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn ngày 08/6/2020 trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng ở cùng gia đình anh S tại Khu 6, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến giữa năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do hai vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi vã, xô xát, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Chị D đã về nhà mẹ đẻ ở Khu 3, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng đã sống ly thân kể từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Đến nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị D và anh S thuận tình ly hôn. Xét thấy, việc chị D và anh S thuận tình ly hôn là phù hợp với điều 55 Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy cần xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị D và anh S.

Về con chung: Chị D và anh S thống nhất vợ chồng có 01 con chung là Vũ Hồng Q, sinh ngày 27/12/2020. Hiện cháu Q đang ở cùng anh S và gia đình anh S. Chị D đã nhiều lần về đón con nhưng anh S và gia đình anh S không đồng ý, ngăn cản, gây khó khăn không cho chị D đón con. Khi ly hôn chị D và anh S đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Q. Chị D và anh Quân đều không đề nghị cấp dưỡng. Xét thấy nguyện vọng được nuôi con của chị D và anh Quân sau khi vợ chồng ly hôn là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, hiện nay con chung là Vũ Hồng Q, sinh ngày 27/12/2020 hiện còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi, nên cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, con dưới 36 tháng tuổi thì giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Nay chị D có nguyện vọng tha thiết được nuôi con, chị D có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con. Do vậy cần giao con chung là cháu Vũ Hồng Q, sinh ngày 27/12/2020 cho chị Đỗ Thị Kim D trực tiếp nuôi là phù hợp. Anh S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị D tự nguyện không yêu cầu. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị D và anh S không đề nghị Toà án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Xét thấy việc chị D tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp, nên cần chấp nhận.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí 2015; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng¸ án phí, lệ phí toà án.

1. Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị Kim D và anh Vũ Hồng S.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Hồng Q, sinh ngày 27/12/2020 cho chị Đỗ Thị Kim D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị D tự nguyện không yêu cầu. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Kim D phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Xác nhận chị Dđã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0004301 ngày 03/1/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho chị D 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Báo cho các đương sự có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ