- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Đặng Thị Thu H và anh Nguyễn Thanh Th"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Thu H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/4/2023. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Lý.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà H Lum Niê; 2. Ông Y Tha Mlô.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bế Văn Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 367/2022/TLST – HNGĐ, ngày 05 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 10/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST - HNGĐ ngày 28/3/2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu H, sinh năm 1977 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Buôn P, thị trấn Ea P, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Th, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Buôn P, thị trấn Ea P, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 26/9/2022 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Đặng Thị Thu H trình bày:
Chị Đặng Thị Thu H và anh Nguyễn Thanh Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 14 tháng 10 năm 2016, tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ea P, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi về chung sống với nhau, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và có với nhau 01 con chung. Đến đầu năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng không hợp tính cách nên thường xuyên cãi nhau, anh Th thường đánh đập chị H nhiều lần. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị H và anh Th đã ly thân từ năm 2022. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không còn tình cảm với nhau, hôn nhân không thể hàn gắn. Vì vậy chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Th.
Về con chung: Vợ chồng chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Hà A sinh ngày 20/10/2016. Hiện nay con đang do chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi ăn học tại Buôn P, thị trấn Ea P, huyện C, anh Th thì thường vắng nhà và hay đi qua nhà ông bà nội ở, cuối tuần anh Th mới về nhà thăm con. Chị H đề nghị tòa án giao cháu Nguyễn Thị Hà A cho chị H trực tiệp nuôi dưỡng chăm sóc đến khi con đủ 18 tuổi. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị Thu H không yêu cầu.
* Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Thanh Th đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Th vắng mặt không có lý do nên tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Th.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đối với Thẩm phán về cơ bản đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Thu H, chị Đặng Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Th.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 20/10/2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với bị đơn có nơi cư trú tại Buôn P, thị trấn Ea P, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Thanh Th nhưng anh Th vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thanh Th là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Chị Đặng Thị Thu H và anh Nguyễn Thanh Th tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 14 tháng 10 năm 2016, tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ea P, huyện CưM’gar theo đúng quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Qua lời khai của đương sự và xác minh tại địa phương đều cho thấy quá trình chung sống, chị H và anh Th thường bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hay cãi vã, thậm chí là đánh đập nhau, Ban tự quản Buôn P thường xuyên hòa giải nhưng hai vợ chồng vẫn mâu thuẫn trầm trọng. Từ năm 2022 đến nay hai vợ chồng không sống chung với nhau. Trong thời gian đó hai bên không có biện pháp nào để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, việc chị H xác định mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn với anh Th là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về con chung: Chị Đặng Thị Thu H và anh Nguyễn Thanh Th có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 20/10/2016. Qua lời khai của nguyên đơn và Biên bản xác minh tại địa phương ngày 12/01/2023, cho thấy hiện nay cháu Nguyễn Thị Hà A đang sống cùng chị H tại Buôn P, thị trấn Ea P, và do chị H trực tiếp nuôi ăn học. Còn anh Th bỏ qua nhà ông bà nội ở, thỉnh thoảng mới về nên không thường xuyên chăm lo cho con. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Thu H, giao cháu Nguyễn Thị Hà A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Thị Thu H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bị đơn anh Nguyễn Thanh Th không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Thu H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Th.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 20/10/2016 cho chị Đặng Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Thị Thu H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Nguyễn Thanh Th có quyền đi lại thăm nom con chung, chị H không được ngăn cản.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị Đặng Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0013655 ngày 28/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh ĐắkLắk.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkLắk; - VKSND huyện CưM’gar; - THADS huyện C; - UBND thị trấn Ea P; - Nguyên đơn; bị đơn; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Thiên Lý |