vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thào Thị D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thào Thị D được ly hôn anh Sùng Seo S. Mối quan hệ hôn nhân của chị Thào Thị D và anh Sùng Seo S được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Thào Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Sùng Ánh Ph, sin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thào Thị D - Sùng Seo S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thào Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 12 - 9 -2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Thanh

+ Ông Thào Seo Tỏa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 8 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXX- ST, ngày 28 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Thào Thị D - sinh năm 2003.

Trú tại: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2.Bị đơn: Anh Sùng Seo S - sinh năm 2000

Trú tại: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn nhận ngày 16 tháng 8 năm 2023 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Thào Thị D trình bày: Chị và anh S về chung sống với nhau từ năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Đến ngày 07 tháng 6 năm 2022 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai. Anh chị về chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh S thường xuyên đi chơi bời, không tu trí làm ăn, không chăm lo cho gia đình, bất đồng quan điểm sống, trong sinh hoạt gia đình hàng ngày, từ những nguyên nhân đó dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Khi anh chị xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn giữa chị và anh S ngày càng trầm trọng. Từ tháng 9 năm 2021 chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sùng Seo S .

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17 tháng 8 năm 2023 bị đơn anh Sùng Seo S trình bày: Anh và chị Thào Thị D chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2018. Đến ngày 07 tháng 6 năm 2022 thì anh chị mới đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai theo đúng quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống anh chị có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh và chị D là do chị D không chịu khó làm ăn, thường xuyên bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, anh đã góp ý nhưng chị D không chịu thay đổi. Chị D không chăm lo cho gia đình, con cái, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh, cãi chửi nhau. Chị D đã bỏ về gia đình bên ngoại sinh sống từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay, không quan tâm đến chồng, con. Anh đã đi đón nhiều lần nhưng chị D không chị về. Nay chị D làm đơn xin ly hôn anh, anh xét thấy tình cảm giữa anh và chị D vẫn còn, anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành, nên anh không nhất trí ly hôn.

- Về nuôi con khi ly hôn: Chị Thào Thị D và anh Sùng Seo S đều thừa nhận, trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung. Cháu lớn tên là Sùng Minh Kh, sinh ngày 06 tháng 9 năm 2020 và cháu nhỏ là Sùng Ánh Ph, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2021. Hiện nay cháu Kh đang sống cùng với anh S, còn cháu Ph đang sống cùng với chị D, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường.

Khi ly hôn chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Sùng Ánh Ph, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2021. Anh Sùng Seo S được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Sùng Minh Kh, sinh ngày 06 tháng 9 năm 2020, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Sùng Seo S mong muốn vợ chồng về. Nếu chị D kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cả hai cháu Kh và Ph, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị D và anh S không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôn nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xử:

+ Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Chị Thào Thị D được ly hôn anh Sùng Seo S.

+ Về con chung: Căn cứ Điều 81,Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Giao cho chị Thào Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Sùng Ánh Ph, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2021. Giao cho anh Sùng Seo S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Sùng Minh Kh, sinh ngày 06 tháng 9 năm 2020, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí và quyền kháng cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa chị D vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn và đề nghị giải quyết về nuôi con chung. Anh S vắng mặt vẫn giữ nguyên quan điểm xin được đoàn tụ gia đình. Nếu chị D kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cả hai con, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Chị Thào Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sùng Seo S, giải quyết về nuôi con chung khi ly hôn. Anh S có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Tại phiên tòa hôm nay chị Thào Thị D và anh Sùng Seo S đều có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Nên căn cứ vào khoản 1 điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thào Thị D và anh Sùng Seo S về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2018, được hai bên gia đình đồng ý, nhưng không tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Đến ngày 07 tháng 6 năm 2022 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình sống chung anh chị sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong việc phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái. Trong cuộc sống anh chị chưa có sự cảm thông, chia sẻ cho nhau những khó khăn. Anh S chưa thực sự quan tâm đến vợ, con. Giữa hai anh chị đã xảy ra xính mích cãi, chửi lẫn nhau. Từ những nguyên nhân đó dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, khi anh chị xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Chị D và anh S đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị D làm đơn xin ly hôn anh S. Anh Sáng xét thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, tình cảm vẫn còn, nên anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy con cái, anh không nhất trí ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị D và anh S rất khó dung hòa tình cảm vợ chồng, gia đình đã khuyên giải và Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện tại anh chị đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Như vậy, đã đủ thấy rằng mâu thuẫn giữa hai anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử cho chị D được ly hôn với anh S là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân của chị Thào Thị D và anh Sùng Seo S được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con khi ly hôn: Cả hai anh chị đều thừa nhận có 02 con chung. Cháu lớn tên là Sùng Minh Kh, sinh ngày 06 tháng 9 năm 2020 và cháu nhỏ là Sùng Ánh Ph, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2021. Hiện nay cháu Kh đang sống cùng với anh S, còn cháu Ph đang sống cùng với chị D, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị D và anh S đều làm ruộng, nương, ngoài ra còn đi làm thuê, có mức thu nhập ngang nhau. Cả hai anh chị đều có điều kiện nuôi dạy con cái trưởng thành. Anh S có nguyện vọng xin được nuôi cả hai cháu Ph và Kh, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung là không phù hợp với thực tế, nên không được chấp nhận. Xét yêu cầu của chị D xin được nuôi cháu Ph, còn anh S nuôi cháu Kh là hoàn toàn phù hợp với thực tế. Bởi lẽ, hiện tại cháu Sùng Ánh Ph còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, cháu là con gái cần được sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ hơn. Mặt khác, từ tháng 9 năm 2021 đến nay cháu Ph là do chị D chăm sóc và nuôi dưỡng. Còn cháu Kh là do anh S chăm sóc và nuôi dưỡng. Tại phiên tòa hôm nay, chị D và anh S đều vắng mặt, nhưng đã có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận đề nghị của chị D, để đảm bảo quyền lợi cho cháu Ph và Kh, nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Giao cháu Ph cho chị D chăm sóc và nuôi dưỡng. Giao cháu Kh cho anh S chăm sóc và nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Thào Thị D và anh Sùng Seo S không đề nghị Toà án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thào Thị D phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về quyền kháng cáo: Chị Thào Thị D và anh Sùng Seo S được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; khoản 1 điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thào Thị D.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Thào Thị D được ly hôn anh Sùng Seo S. Mối quan hệ hôn nhân của chị Thào Thị D và anh Sùng Seo S được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2.Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Thào Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Sùng Ánh Ph, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2021. Giao cho anh Sùng Seo S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Sùng Minh Kh, sinh ngày 06 tháng 9 năm 2020, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Thào Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng)

̀ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi

́ dân sự sơ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng), theo biên lai số

̀ 0001777, ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B ắc Hà. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Thào Thị D và anh Sùng Seo S vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ