vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Triệu Thị Tâm"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày 19 tháng 7 năm 2023.
“ V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga

Bà Đàm Thị Hảo

Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 36/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị T, sinh năm 1998. Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phùng Tòn Ch, sinh năm 1995. Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Triệu Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Phùng Tòn Ch xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào năm 2016. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2019 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Ch thường xuyên hay uống rượu và đánh chửi vợ, bản thân chị T đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh vẫn không thay đổi, do vậy hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù chị T đã nhiều lần nói chuyện tìm cách giải quyết mâu thuẫn với anh Ch nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Từ năm 2020 đến nay hai vợ chồng đã sống ly thân, chị T cũng về nhà bố mẹ đẻ tại xã Kh, huyện B sinh sống. Nay tôi xin được ly hôn với anh Phùng Tòn Ch.

Về con chung: Chị và anh Phùng Tòn Ch có một con chung tên là Phùng Quang H, sinh ngày 01/02/2016, con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường, hiện nay đang sống cùng gia đình nhà chồng tại Thôn , xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khi ly hôn, chị Triệu Thị T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh Phùng Tòn Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Triệu Thị T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phùng Tòn Ch: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân, quan hệ gia đình của vợ chồng tại địa phương và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn, không Hòa giải được.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Triệu Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu được Ly hôn với anh Phùng Tòn Ch và yêu cầu được nuôi con chung.

- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình tố tụng, xây dựng hồ sơ và tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã đảm bảo đúng quy định. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Triệu Thị T, cho chị Tâm được ly hôn với anh Phùng Tòn Ch. Về con chung: Đề nghị giao con chung Phùng Quang H cho chị Triệu Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Triệu Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, nuôi con chung khi Ly hôn, nguyên đơn và bị đơn có nơi cư trú tại thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể. Quá trình giải quyết vụ án do anh Phùng Tòn Ch không hợp tác với Tòa án và Tòa án đã triệu tập để tiến hành hòa giải nhưng vẫn không đến, chị Triệu Thị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Phùng Tòn Ch không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo mở lại phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị T và anh Phùng Tòn Ch kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 07/9/2016 nên xác định hôn nhân của hai anh chị là hợp pháp. Nay chị Triệu Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Tòn Ch, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị T là phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị Triệu Thị T và anh Phùng Tòn Ch có 01 con chung tên là Phùng Quang H, sinh ngày 01/02/2016. Con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường và hiện nay cháu đang ở cùng với gia đình nhà chồng. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Triệu Thị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Hội đồng xét xử xét thấy anh Phùng Tòn Ch không hợp tác với Tòa án và cũng không có ý kiến gì về vấn đề nuôi con chung, do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, thấy rằng yêu cầu của chị Triệu Thị T là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu, đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Chị Triệu Thị T không yêu cầu anh Phùng Tòn Ch cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Triệu Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Triệu Thị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 207; khoản 2 Điều 208; Điều 227/Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn của chị Triệu Thị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị T được ly hôn với anh Phùng Tòn Ch.

- Về con chung: Giao con chung là Phùng Quang H, sinh ngày 01/02/2016 cho chị Triệu Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Triệu Thị T không yêu cầu anh Phùng Tòn Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phùng Tòn Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Triệu Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147/Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Triệu Thị phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị Triệu Thị T đã nộp theo biên lai số: 0001171 ngày 05/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Xác nhận chị Triệu Thị T đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ