- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đặng Thị N/Đỗ Thị Diễm L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị N đối với bị đơn Đỗ Thị Diễm L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/DS-ST Ngày: 21-02-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quý Hòa
Ông Lê Ngọc Hiệp.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hồng Giang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2022, về việc: Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST- DS ngày 09 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Ng, sinh năm 1983;
Nơi cư trú: Đội 9, thôn H, xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Diễm L, sinh năm 1980;
Nơi cư trú: Đội 7, thôn H, xã Ân phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Minh C, sinh năm 1979;
Nơi cư trú: Đội 7, thôn H, xã Ân phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 24 tháng 11 năm 2022 của bà Đặng Thị N, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Do cần vốn để làm ăn, nên bà Đỗ Thị Diễm L có đến mượn tiền bà Đặng Thị N nhiều lần với tổng số tiền nợ là 230.000.000 đồng nhưng không nhớ rõ ngày, tháng. Đến ngày 24/08/2022 bà N và vợ, chồng bà L thống nhất viết lại giấy mượn tiền với tổng số tiền nợ là 230.000.000 đồng. Khi mượn tiền, hai bên có thỏa thuận bà Nguyệt cho bà L mượn tiền để vợ, chồng bà mua vật liệu xây dựng làm nhà ở cho bà N nên không tính lãi, sau khi công trình nhà ở hoàn thành thì sẽ trừ vào chi phí xây dựng. Tuy nhiên, sau khi mượn được tiền thì vợ, chồng bà L chỉ xây dựng nhà dang dở mà không hoàn thành công trình như đã hứa. Nay vợ chồng bà L đã bỏ đi, không làm nhà cho bà N nữa nên bà N mới làm đơn khởi kiện vợ, chồng bà Đỗ Thị Diễm L ra Tòa để yêu cầu vợ, chồng bà L phải trả lại khoản tiền đã mượn là 230.000.000 đồng còn nợ và tự nguyện không yêu cầu vợ, chồng bà L phải chịu tiền lãi suất chậm trả.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023 nguyên đơn Đặng Thị N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 22 tháng 11 năm 2022 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, bị đơn Đỗ Thị Diễm L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Minh Ctrình bày:
Do cần vốn để làm ăn, nên bà L có đến mượn tiền của bà Đặng Thị N nhiều lần nhưng không nhớ ngày, tháng với tổng số tiền mượn là 230.000.000 đồng. Đến ngày 24/08/2022, bà L và bà N thống nhất viết lại giấy mượn nợ với số tiền 230.000.000 đồng. Khi mượn tiền, hai bên có thỏa thuận bà Lmượn tiền của bà N phải chịu lãi suất 20%/tháng, trả lãi hàng tháng. Thời hạn mượn khi nào bà N yêu cầu trả nợ thì bà sẽ trả. Việc vợ chồng bà vay tiền của bà N với lãi suất 20%/tháng bà L, ông C không có chứng cứ gì để chứng minh.
Từ ngày mượn tiền cho đến nay, bà L trả lãi cho bà N đầy đủ, đến cuối tháng 8/2022 vì lãi suất vay quá cao nên vợ, chồng bà không còn khả năng thanh toán. Từ đó đến nay vợ, chồng bà L không trả lãi cho bà N nữa.
Nay bà Đặng Thị Nkhởi kiện thì vợ, chồng bà Đỗ Thị Diễm L công nhận có vay và còn nợ bà Đặng Thị N số tiền 230.000.000 đồng và xin trả dần.
2
Ngày 06 tháng 12 năm 2022, bị đơn Đỗ Thị Diễm L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Minh C có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Đại diện VKS phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Đỗ Thị Diễm L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Minh C phải trả cho nguyên đơn Đặng Thị Nsố tiền đã mượn còn nợ là 230.000.000 đồng và bà L, ông Ckhông phải chịu lãi suất chậm trả do nguyên đơn không yêu cầu. Về án phí dân sự sơ thẩm bị đơn Đỗ Thị Diễm L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Minh C phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Đặng Thị Ncó đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đỗ Thị Diễm L phải trả khoản tiền đã mượn còn nợ. Căn cứ khoản 3, Điều 26 và Điều 463 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự, cụ thể là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Nguyên đơn Đặng Thị N tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn Đỗ Thị Diễm L, Đào Minh C, cư trú tại: thôn H, xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của nguyên đơn Đặng Thị N, bị đơn Đỗ Thị Diễm L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đào Minh C. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào giấy mượn tiền ghi ngày 24/08/2022 cùng lời khai thể hiện bà Đỗ Thị Diễm L và ông Đào Minh C có vay của bà Đặng Thị N với tổng số tiền là 230.000.000 đồng, với mục đích vay để bà L, ông C làm ăn, có giấy mượn tiền do bà L, ông C ký, được hai bên thừa nhận. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết nên nguyên đơn Đặng Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đỗ Thị Diễm L và ông Đào Minh C phải trả số tiền 230.000.000 đồng còn nợ và tự nguyện không yêu cầu tính lãi suất chậm trả là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
3
Đối với lời khai của bà Đỗ Thị Diễm L và ông Đào Minh C thừa nhận có mượn và còn nợ bà Đặng Thị N số tiền 230.000.000 đồng. Bà L, ông C chấp nhận trả khoản nợ trên nhưng xin trả dần là thiếu thiện chí trả nợ, nhằm chiếm dụng lâu dài khoản tiền trên của nguyên đơn nên không có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 thì bị đơn Đỗ Thị Diễm L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Minh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 230.000.000 đồng x 5% = 11.500.000 đồng. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.
Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 và Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị N đối với bị đơn Đỗ Thị Diễm L.
2. Buộc bà Đỗ Thị Diễm L và ông Đào Minh C phải trả cho bà Đặng Thị N số tiền đã vay còn nợ là 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng.
3. Về án phí:
3.1. Bà Đỗ Thị Diễm L và ông Đào Minh C phải chịu 11.500.000 (mười một triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Hoàn trả cho bà Đặng Thị N số tiền 5.750.000 (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0010800 ngày 28/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
4
4.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Hoài Ân; - Chi cục Thi hành án DS huyện Hoài Ân; - Các đương sự; - Lưu HSVA. 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Nam |