- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty X với Nguyễn Kim C"
- Tòa quyết gì? Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 09/2023/DS-ST Ngày: 31/01/2023 V/v tranh chấp“hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đào Thị Thu Vân
2. Ông Võ Lâm Sơn
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2023/TLST- DS ngày 21 tháng 10
năm 2023 về tranh chấp“Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 654/2023/QĐXX-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên
tòa số 23/2022/QĐST - DS ngày 13 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ x (sau đây được
gọi tắt là Công ty X);
Người Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H.T; chức vụ; địa chỉ:
tầng 1, tầng 2, Tòa nhà PVL , số X, đường D, phường L, Thành phố A, Thành
phố H.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Công ty Luật trách nhiệm hữu
hạn Một thành viên Đ. Ông Huỳnh Minh T, chức vụ: giám đốc; địa chỉ: tầng 5,
tòa nhà 3S TOWER, số 81, đường N, phường A, Quận K, Thành phố C; Địa chỉ
liên hệ: F2-73, đường V, khu vực T, phường P, Quận Y, Thành phố C.
Người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng: Ông Trần Hữu A, nhân viên;
Địa chỉ liên hệ: F2 - 73, đường V, khu vực T, phường P, Quận R, Thành phố C.
Bị đơn: Bà Nguyễn Kim C, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp A, xã L, huyện C,
tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và
lời trình bày tại các phiên hòa giải, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Ngày 12/11/2018, Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng Việt
Nam Thịnh Vượng SMBC (sau đây được gọi tắt là Công ty tài chính SMBC) có ký hợp đồng tín dụng với bà Nguyễn Kim C; theo hợp đồng Công ty cho bà C vay 27.430.000 đồng (hai mươi bảy triệu bốn trăm ba mươi nghìn), lãi suất thỏa thuận 4,42%/tháng. Theo thỏa thuận, bà C có trách nhiệm thanh toán số tiền 50.009.778 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả trong 36 tháng, bắt đầu từ ngày 14/12/2018. Bà Nguyễn Kim C đã nhận đủ tiền vay theo hợp đồng và đã thanh toán cho Công ty tài chính SMBC 7 lần với tổng số tiền 11.760.000 đồng. Từ ngày 07/7/2019 đến nay, bà C không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.
Ngày 29/3/2021, khoản nợ của bà Nguyễn Kim C đã được Công ty tài
chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính SMBC) chuyển nhượng cho Công ty X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003. Do bà C không thực iện nghĩa vụ trả nợ nên Công ty X khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà C có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 14/5/2021 là 38.249.778 đồng ( trong đó, vốn gốc 23.778.449 đồng, lãi 14.471.329 đồng).
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến,
yêu cầu khởi kiện của mình là: Đơn khởi kiện; tờ tự khai; 01 (một) bản sao hợp đồng tín dụng, hợp đồng mua bán nợ, các thủ tục đăng ký hoạt động của Công ty X.
Bị đơn Nguyễn Kim C vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến,
không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn vắng mặt, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
nguyên đơn trình bày, vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu bà C có nghĩa vụ trả cho Công ty X vốn và lãi tính đến ngày 01/3/2022 là ngày 14/5/2021 là 38.249.778 đồng (vốn gốc 23.778.449 đồng, lãi 14.471.329 đồng). Ngoài ra không yêu cầu bất cứ khoản tiền lãi phát sinh nào khác.
- Bị đơn Nguyễn Kim C vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến,
không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm về tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán được phân công thụ
lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197,
198 và Điều 203; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng
các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm, bảo
đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đối với
nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định
tại các Điều 70, 71 và Điều 234; bị đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã
thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 và Điều 234 từ khi thụ lý vụ
án, tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 76 và Điều 234 Bộ
- Về giải quyết vụ án:
Hợp đồng tín dụng số 20181113- 0002417 ngày 12/11/2018 với số tiền đã
giải ngân là 27.430.000 đồng giữa bà Chau và Công ty tài chính trách nhiệm hữu
hạn Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC được xác lập trên cơ sở tự
nguyện thỏa thuận, khi vay có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của bà
C, việc bà C không trả tiền vốn và lãi suất Công ty tài chính SMBC theo thỏa
thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Công ty tài chính SMBC bán khoản
nợ trên cho Công ty X để khởi kiện yêu cầu bà C trả vốn và lãi với số tiền
38.249.778 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều
463, 466, 468 Bộ luật Dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, đề xuất:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán
nợ X.
- Buộc bà Nguyễn Kim C có nghĩa vụ trả cho Công ty trách nhiệm hữu
hạn X số tiền vốn và lãi tính đến ngày 14/5/2021 là 38.249.778 đồng, bao gồm
vốn 23.778.449 đồng, tiền lãi 14.471.329 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của
đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn
có nghĩa vụ trả tiền vay và lãi suất; căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân
sự xác định là tranh chấp“hợp đồng tín dụng”.
Về thẩm quyền: bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện C nên vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang theo quy
định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của các đương sự: bị đơn vắng mặt tuy được triệu tập
hợp lệ đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
Theo tài liệu, chứng cứ thể hiện ngày 12/11/2018, Công ty tài chính SMBC
có ký hợp đồng tín dụng với bà Nguyễn Kim C vay số tiền 27.430.000 đồng (hai mươi bảy triệu bốn trăm ba mươi nghìn) với lãi suất thỏa thuận 4,42%/tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà C có trách nhiệm thanh toán số tiền 50.009.778 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong 36 tháng. Bắt đầu từ ngày 14/12/2018. Bà C đã nhận đủ tiền vay theo hợp đồng và đã thanh toán cho Công ty tài chính SMBC 7 lần với tổng số tiền 11.760.000 đồng. Kể từ ngày 07/7/2019 đến nay, bà C không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.
Ngày 29/3/2021, khoản nợ của bà C đã được Công ty Tài chính trách nhiệm
hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính SMBC) chuyển nhượng cho Công ty X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003. Do bà C trễ hạn và vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty X khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà C có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 14/5/2021 là 38.249.778 đồng (vốn gốc 23.778.449 đồng, lãi 14.471.329 đồng).
Về nhận định, đánh giá tài liệu, chứng cứ:
Hợp đồng tín dụng số 20181113- 0002417 ngày 12/11/2018 giữa bà C và
Công ty tài chính SMBC được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, phù hợp quy định pháp luật, khi vay thể hiện nội dung bằng văn bản và có chữ ký xác nhận của bà C, với số tiền đã giải ngân là 27.430.000 đồng; việc bà C không trả tiền vốn và lãi suất Công ty tài chính SMBC theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Công ty tài chính SMBC bán khoản nợ trên cho Công ty X; trên cơ sở mua khoản nợ Công ty X khởi kiện yêu cầu bà C trả vốn và lãi với số tiền 38.249.778 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Về lãi suất: phía nguyên đơn không yêu cầu bất cứ khoản tiền lãi phát
sinh sau khi thực hiện việc mua bán nợ, không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí,
được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn) theo biên lai thu số 0012717 ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.
Bị đơn Nguyễn Kim C phải chịu án phí theo quy định là 5% số tiền
38.249.778 đồng, tương ứng 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).
Đánh giá quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội
đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 và khoản 1 Điều 273
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 280, 298, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Xử:
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua
bán nợ X;
Buộc bà Nguyễn Kim C có nghĩa vụ trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn
mua bán nợ X số tiền 38.249.778 đồng (ba mươi tám triệu hai trăm bốn mươi
chín nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí,
được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 950.000 đồng (chín trăm năm
mươi nghìn) theo biên lai thu số 0012717 ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.
Bị đơn Nguyễn Kim C phải chịu 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm
nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án bản án để Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ
tục phúc thẩm. Bị đơn Nguyễn Kim C được quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc được niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND H. Chợ Mới; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Huy Phong |