vanban.org

Bản án 09/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty X với Nguyễn Kim C"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 09/2023/DS-ST
Ngày: 31/01/2023
V/v tranh chấp“hợp đồng
tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đào Thị Thu Vân

2. Ông Võ Lâm Sơn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2023/TLST- DS ngày 21 tháng 10

năm 2023 về tranh chấp“Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số 654/2023/QĐXX-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên

tòa số 23/2022/QĐST - DS ngày 13 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ x (sau đây được

gọi tắt là Công ty X);

Người Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H.T; chức vụ; địa chỉ:

tầng 1, tầng 2, Tòa nhà PVL , số X, đường D, phường L, Thành phố A, Thành

phố H.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Công ty Luật trách nhiệm hữu

hạn Một thành viên Đ. Ông Huỳnh Minh T, chức vụ: giám đốc; địa chỉ: tầng 5,

tòa nhà 3S TOWER, số 81, đường N, phường A, Quận K, Thành phố C; Địa chỉ

liên hệ: F2-73, đường V, khu vực T, phường P, Quận Y, Thành phố C.

Người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng: Ông Trần Hữu A, nhân viên;

Địa chỉ liên hệ: F2 - 73, đường V, khu vực T, phường P, Quận R, Thành phố C.

Bị đơn: Bà Nguyễn Kim C, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp A, xã L, huyện C,

tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và

lời trình bày tại các phiên hòa giải, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Ngày 12/11/2018, Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng Việt

Nam Thịnh Vượng SMBC (sau đây được gọi tắt là Công ty tài chính SMBC) có ký hợp đồng tín dụng với bà Nguyễn Kim C; theo hợp đồng Công ty cho bà C vay 27.430.000 đồng (hai mươi bảy triệu bốn trăm ba mươi nghìn), lãi suất thỏa thuận 4,42%/tháng. Theo thỏa thuận, bà C có trách nhiệm thanh toán số tiền 50.009.778 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả trong 36 tháng, bắt đầu từ ngày 14/12/2018. Bà Nguyễn Kim C đã nhận đủ tiền vay theo hợp đồng và đã thanh toán cho Công ty tài chính SMBC 7 lần với tổng số tiền 11.760.000 đồng. Từ ngày 07/7/2019 đến nay, bà C không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Ngày 29/3/2021, khoản nợ của bà Nguyễn Kim C đã được Công ty tài

chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính SMBC) chuyển nhượng cho Công ty X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003. Do bà C không thực iện nghĩa vụ trả nợ nên Công ty X khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà C có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 14/5/2021 là 38.249.778 đồng ( trong đó, vốn gốc 23.778.449 đồng, lãi 14.471.329 đồng).

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến,

yêu cầu khởi kiện của mình là: Đơn khởi kiện; tờ tự khai; 01 (một) bản sao hợp đồng tín dụng, hợp đồng mua bán nợ, các thủ tục đăng ký hoạt động của Công ty X.

Bị đơn Nguyễn Kim C vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến,

không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn vắng mặt, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

nguyên đơn trình bày, vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu bà C có nghĩa vụ trả cho Công ty X vốn và lãi tính đến ngày 01/3/2022 là ngày 14/5/2021 là 38.249.778 đồng (vốn gốc 23.778.449 đồng, lãi 14.471.329 đồng). Ngoài ra không yêu cầu bất cứ khoản tiền lãi phát sinh nào khác.

- Bị đơn Nguyễn Kim C vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến,

không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm về tuân

theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán được phân công thụ

lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197,

198 và Điều 203; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng

các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm, bảo

đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đối với

nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định

tại các Điều 70, 71 và Điều 234; bị đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã

thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 và Điều 234 từ khi thụ lý vụ

án, tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 76 và Điều 234 Bộ

luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án:

Hợp đồng tín dụng số 20181113- 0002417 ngày 12/11/2018 với số tiền đã

giải ngân là 27.430.000 đồng giữa bà Chau và Công ty tài chính trách nhiệm hữu

hạn Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC được xác lập trên cơ sở tự

nguyện thỏa thuận, khi vay có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của bà

C, việc bà C không trả tiền vốn và lãi suất Công ty tài chính SMBC theo thỏa

thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Công ty tài chính SMBC bán khoản

nợ trên cho Công ty X để khởi kiện yêu cầu bà C trả vốn và lãi với số tiền

38.249.778 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều

463, 466, 468 Bộ luật Dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, đề xuất:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán

nợ X.

- Buộc bà Nguyễn Kim C có nghĩa vụ trả cho Công ty trách nhiệm hữu

hạn X số tiền vốn và lãi tính đến ngày 14/5/2021 là 38.249.778 đồng, bao gồm

vốn 23.778.449 đồng, tiền lãi 14.471.329 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của

đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn

có nghĩa vụ trả tiền vay và lãi suất; căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân

sự xác định là tranh chấp“hợp đồng tín dụng”.

Về thẩm quyền: bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện C nên vụ án thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang theo quy

định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ

luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của các đương sự: bị đơn vắng mặt tuy được triệu tập

hợp lệ đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:

Theo tài liệu, chứng cứ thể hiện ngày 12/11/2018, Công ty tài chính SMBC

có ký hợp đồng tín dụng với bà Nguyễn Kim C vay số tiền 27.430.000 đồng (hai mươi bảy triệu bốn trăm ba mươi nghìn) với lãi suất thỏa thuận 4,42%/tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà C có trách nhiệm thanh toán số tiền 50.009.778 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong 36 tháng. Bắt đầu từ ngày 14/12/2018. Bà C đã nhận đủ tiền vay theo hợp đồng và đã thanh toán cho Công ty tài chính SMBC 7 lần với tổng số tiền 11.760.000 đồng. Kể từ ngày 07/7/2019 đến nay, bà C không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Ngày 29/3/2021, khoản nợ của bà C đã được Công ty Tài chính trách nhiệm

hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính SMBC) chuyển nhượng cho Công ty X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003. Do bà C trễ hạn và vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty X khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà C có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 14/5/2021 là 38.249.778 đồng (vốn gốc 23.778.449 đồng, lãi 14.471.329 đồng).

Về nhận định, đánh giá tài liệu, chứng cứ:

Hợp đồng tín dụng số 20181113- 0002417 ngày 12/11/2018 giữa bà C và

Công ty tài chính SMBC được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, phù hợp quy định pháp luật, khi vay thể hiện nội dung bằng văn bản và có chữ ký xác nhận của bà C, với số tiền đã giải ngân là 27.430.000 đồng; việc bà C không trả tiền vốn và lãi suất Công ty tài chính SMBC theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Công ty tài chính SMBC bán khoản nợ trên cho Công ty X; trên cơ sở mua khoản nợ Công ty X khởi kiện yêu cầu bà C trả vốn và lãi với số tiền 38.249.778 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Về lãi suất: phía nguyên đơn không yêu cầu bất cứ khoản tiền lãi phát

sinh sau khi thực hiện việc mua bán nợ, không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố

tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí,

được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn) theo biên lai thu số 0012717 ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn Nguyễn Kim C phải chịu án phí theo quy định là 5% số tiền

38.249.778 đồng, tương ứng 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).

Đánh giá quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội

đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 và khoản 1 Điều 273

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 280, 298, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Xử:

1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua

bán nợ X;

Buộc bà Nguyễn Kim C có nghĩa vụ trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn

mua bán nợ X số tiền 38.249.778 đồng (ba mươi tám triệu hai trăm bốn mươi

chín nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với

các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án

xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi

hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật

Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí,

được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 950.000 đồng (chín trăm năm

mươi nghìn) theo biên lai thu số 0012717 ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi

cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn Nguyễn Kim C phải chịu 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm

nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án bản án để Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ

tục phúc thẩm. Bị đơn Nguyễn Kim C được quyền kháng cáo bản án trong hạn

15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc được niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ