vanban.org

Bản án 09/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về xây dựng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH HP

Buộc Công ty Cổ phần Thiết bị và Cơ khí MT thanh toán cho công ty TNHH HP số tiền 260.000.000đ. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày công ty TNHH HP có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng Công ty Cổ phần Thiết bị và Cơ khí MT còn phải ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Công ty HP kiện công ty MT"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH HP
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/KDTM-ST
Ngày: 27 – 5 – 2022
V/v “Tranh chấp hợp đồng thi công
trong xây dựng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Quốc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hoàng Khởi

Ông Nguyễn Hoàng Kha

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Đa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 375/2021/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2021 về việc "Tranh chấp hợp đồng thi công trong xây dựng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2022/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH HP.

Trụ sở: Số 33, đường G, khóm 5, phường 1, thành phố C, tỉnh C.

Đại diện theo pháp luật của công ty là ông Giáp Văn Nh. Chức vụ Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền của công ty tham gia tố tụng tại Tòa án là anh Đào Công Kh, sinh năm: 1964 (có mặt).

Nơi cư trú: Số 10D, đường L, khóm 7, phường 8, thành phố C, tỉnh C

Bị đơn: Công ty Cổ phần Thiết bị và Cơ khí MT.

Trụ sở: Khu công nghiệp Khánh An, xã K, huyện M, tỉnh C.

Đại diện theo pháp luật của công ty: Bà Trần Thị B. Chức vụ: Chủ tịch

Hội đồng quản trị (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Đào Công Khanh trình bày:

Ngày 12/11/2019, giữa công ty TNHH HP (gọi tắc là công ty HP) và công ty Cổ phần thiết bị và cơ khí MT (gọi tắc là công ty MT) tiến hành ký hợp đồng số 17/2019/HĐKT/HP-MT về việc sản xuất và lắp đặt hoàn thiện hạng mục kết cấu thép công trình xây dựng chơ tự tiêu tự sản U Minh, tổng giá trị hợp đồng là 750.000.000đ, thời hạn thực hiện là 30 ngày.

Ngày 19/11/2019 công ty HP chuyển tạm ứng 30% giá trị hợp đồng cho công ty MT với số tiền 200.000.000đ.

Sau khi công ty HP chuyển tiền cho công ty MT, công ty MT không thực hiện công việc theo thỏa thuận tại hợp đồng trên nên nhiều lần công ty HP yêu cầu công ty MT hoàn trả lại số tiền đã nhận nhưng công ty MT không thực hiện.

Nay công ty HP khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc công ty MT trả lại số tiền 200.000.000đ. Đông thời trả thêm khoản tiền phạt quy định tại điều 7 của hợp đồng. Trong đó lãi suất phạt: 5%/tuần x 4 tuần = 20%. Tiền phạt: 750.000.000đ x 20% = 150.000.000đ.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có thay đổi 01 phần nội dung yêu cầu khởi kiện, cụ thể về phạt vi phạm hợp đồng, yêu cầu công ty MT chịu mức phạt: 720.000.000đ x 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm = 60.000.000đ.

Tổng số tiền công ty HP yêu cầu công ty MT phải thanh toán là 260.000.000đ.

Yêu cầu chấm dứt hợp đồng số 17/2019/HĐKT/HP-MT ngày 19/11/2019 giữa công ty HP và công ty MT.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng của Tòa án cho đại diện hợp pháp bị đơn nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật, không vi phạm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của công ty HP, buộc công ty MT thanh toán tổng số tiền 260.000.000đ. Chấm dứt hợp đồng số 17/2019/HĐKT/HP-MT ngày 19/11/2019 giữa công ty HP và công ty MT.

Án phí: đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đại diện theo pháp luật của công ty MT đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng đại diện theo pháp luật của công ty vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Tại điều 7 của hợp đồng 17/2019/HĐKT/HP-MT ngày 12/11/2019 giữa công ty HP và công ty MT có thỏa thuận, trường hợp có phát sinh tranh chấp thì Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau có thẩm quyền giải quyết. Căn cứ điểm b, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tiến hành giải quyết tranh chấp giữa công ty HP và công ty MT là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Công ty HP và công ty MT, có đăng ký kinh doanh, hoạt động có mục đích lợi nhuận và phát sinh tranh chấp trong hoạt động kinh doanh. Căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự, tranh chấp giữa công ty HP và công ty MT được xác định là tranh chấp về kinh doanh thương mại.

Xét việc thay đổi 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu công ty MT phải chịu phạt với số tiền 150.000.000đ. Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn có thay đổi mức phạt với số tiền phạt 60.000.000đ, thấy rằng: Việc thay đổi yêu cầu này phù hợp với Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của công ty HP, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với yêu cầu hoàn trả lại số tiền tạm ứng 200.000.000đ, nhận thấy, ngày 12/11/2019, giữa công ty HP và công ty MT tiến hành ký kết hợp đồng số 17/2019/HĐKT/HP-MT về việc sản xuất và lắp đặt hoàn thiện hạng mục kết cấu thép và công trình xậy dựng chợ tự tiêu - tự sản U Minh, tổng giá trị hợp đồng là 750.000.000đ. Hợp đồng trên được các đương sự ký kết được thiết lập trên tinh thần tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật.

Sau khi ký kết hợp đồng, ngày 19/11/2019, công ty HP đã thanh toán tạm ứng cho công ty MT thông qua Ủy nhiệm chi ngày 19/11/2019 tại Ngân hàng TMCP Bản Việt – Chi nhánh Cà Mau 200.000.000đ nhưng công ty MT đã không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận được ký kết tại hợp đồng nên việc công ty HP yêu cầu công ty MT hoàn trả lại số tiền tạm ứng 200.000đ là có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu của công ty HP về việc buộc công ty MT trả khoản tiền phạt 750.000.000đ x 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm = 60.000.000đ, nhận thấy: Do công ty MT vi phạm nghĩa vụ được quy định tại Điều 3, Điều 6 của hợp đồng và giữa công ty HP và công ty MTcó thỏa thuận việc phạt vi phạm hợp đồng nên việc công ty HP yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng đối với công ty MT là phù hợp với quy định tại Điều 301 Luật thương mại 2005 nên chấp nhận yêu cầu này của công ty HP.

Từ phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của công ty HP về việc buộc công ty MT thanh toán tổng số tiền 260.000.000đ.

Đối với hợp đồng số 17/2019/HĐKT/HP-MT, do công trình đã được thực hiện hoàn thành, đối tượng của hợp đồng không còn nên việc công ty HP đề nghị chấm dứt hợp đồng trên là có cơ sở.

Do đó đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 92; Điều 147; Điều 207; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 138; 140; 145 Luật xây dựng

- Căn cứ Điều 301 Luật thương mại 2005;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH HP

- Buộc Công ty Cổ phần Thiết bị và Cơ khí MT thanh toán cho công ty TNHH HP số tiền 260.000.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày công ty TNHH HP có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng Công ty Cổ phần Thiết bị và Cơ khí MT còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Chấm dứt hợp đồng số 17/2019/HĐKT/HP-MT ngày 12/11/2019 giữa công ty TNHH HP và Công ty Cổ phần Thiết bị và Cơ khí MT.

2. Án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch: Công ty Cổ phần Thiết bị và Cơ khí MT phải chịu án phí 13.000.000đ (chưa nộp). Công ty TNHH HP không phải chịu án phí. Ngày 08/10/2021 Công ty TNHH HP đã nộp 8.750.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau theo biên lai số 0000604 được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ