| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T T TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HSST Ngày: 28-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T T-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông: Đ V H
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông H V D
2. Bà C T H C
- Thư ký phiên tòa: Ông T V Q, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T T tham gia phiên tòa:Ông H H T, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại tr s Tòa án nhân dân huyện T T t nh An Giang, xét xử s th m công khai v án hình sự th lý số 06/2021/TLST-HS, ngày 21 tháng 02 năm 2022, Quyết định đưa v án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2022, đối với bị cáo:
Bùi Văn N (Tên gọi khác: Khỏe), sinh năm 1990, tại huyện T T t nh An Giang;
N i cư trú: Khóm An Hòa B, thị trấn B C, huyện T T t nh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn h a: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tứ Ân Hiếu Nghĩa; con ông Bùi Mạnh H v b Nguyễn Thị L; vợ Trần Thị Ngọc L và 02 đứa con con lớn sinh năm 2011 con nhỏ sinh năm 2013; Chị em c 03 người bị cáo l người thứ 02; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tạm giam từ ngày 27-8-2021 đến nay c mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phan Tấn Th sinh năm 1992; n i cư trú: Khóm An Bình, thị trấn B C, huyện T T t nh An Giang vắng mặt;
Ông Nguyễn Vinh S, sinh ngày 04/5/2003; n i cư trú: Kh m An Hòa A, thị trấn B C, huyện T T t nh An Giang có mặt;
Ông Đặng Th nh L sinh năm 1991; n i cư trú: Kh m An Hòa B thị trấn B C, huyện T T t nh An Giang vắng mặt;
Ông Bùi Mạnh H sinh năm 1955; n i cư trú: Kh m An Hòa B thị trấn B C, huyện T T t nh An Giang có mặt;
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; n i cư trú: Kh m An Hòa B thị trấn B C, huyện T T t nh An Giang có mặt;
Ông Lý Dư ng Thế H sinh năm 1979; n i cư trú: Ấp Vĩnh Tiến thị trấn Cái Dầu huyện Châu Phú t nh An Giang vắng mặt;
Người chứng kiến:
Ông Võ Văn X, sinh năm 1958, vắng mặt.
NỘI DUNG V ÁN
Qua các t i liệu c trong h s v án v quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa nội dung v án được t m tắt như sau:
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân khoảng 10 giờ 40 phút ngày 27-8-2021, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế và ma túy – Công an huyện T T phối hợp cùng Công an thị trấn B C bắt quả tang Bùi Văn N có hành vi bán cho Phan Tấn Th 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt h n kín hai đầu bên trong chứa các hạt tinh thể m u trắng (nghi l ma túy) với giá 200.000 đ ng tại nh của N sau đ đưa N về tr s Công an lập biên bản cùng vật chứng. Tiến h nh khám xét nh của N phát hiện bên trong c c xạc dự phòng để dưới nệm thu giữ thêm 12 đoạn ống hút nhựa trong suốt h n kín hai đầu v 06 bọc nilon trong suốt h n kín bên trong đều chứa các hạt tinh thể m u trắng cùng một số d ng c phân tách sử d ng ma túy v các t i sản khác.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 06 giờ ng y 27-8-2021, N mượn xe mô tô biển số 67B2- 172.44 của Nguyễn Vinh S đến khu vực kênh 23 thuộc xã A N, huyện T B t nh An Giang mua 2.000.000 đ ng ma túy từ một người thanh niên (không biết tên địa ch ) số ma túy được để trong c c xạc dự phòng sau khi mua xong N đem về nh cất giấu m c đích để bán thu lợi nhuận. Khi n y Th đem tiền đến trả cho N 120.000 đ ng do Th thiếu khi mua ma túy trước đ . Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Th quay lại gặp N mua 200.000 đ ng ma túy khi N nhận tiền v lấy tép ma túy trong c c xạc dự phòng ra đưa cho Th thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, N còn khai trước đ đã bán ma túy cho Th 04 lần nhưng không nhớ thời gian ch nhớ c lần Th mua 200.000 đ ng nhưng trả tiền 80.000 đ ng nợ lại 120.000 đ ng đến ng y 27-8-2021 Th đem tiền đến trả 120.000 đ ng cho N sau đ Th quay lại mua ma túy thì bị bắt quả tang.
Ngày 05-9-2021, N bị kh i tố v tạm giam để điều tra.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt, hàn kín bên trong c chứa tinh thể m u trắng nghi l ma túy;
- 12 (mười hai) đoạn ống hút nhựa trong suốt hàn kín bên trong c chứa tinh thể m u trắng nghi l ma túy;
- 06 (sáu) đoạn ống hút nhựa trong suốt h n kín bên trong c chứa tinh thể m u trắng nghi l ma túy;
- Số tiền Việt Nam 306.000 đ ng;
- 01 (một) chai nhựa trong suốt trên nắp chai c gắn ống hút nhựa m u trắng; 01 (một) quẹt gas m u xanh; 01 (một) chai gas mini c một đầu khò lửa; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại m u trắng; 03 (ba) đoạn nõ thủy tinh c đầu tròn; 12 (mười hai) ống nhựa trong suốt bên trong rỗng; 36 (ba mư i sáu) bọc nilon h n kín một đầu;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA m u đen gắn sim số thuê bao 0355554362;
- 01 (một) xe mô tô biển số 67B2 – 172.44 nhãn hiệu Wave màu xanh, đã qua sử d ng;
Căn cứ Kết luận giám định số 246 ngày 02-9-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an t nh An Giang kết luận: 01 phong bì m u trắng được niêm phong c đ ng dấu tròn đỏ của Công an thị trấn B C, huyện T T v các chữ ký ghi tên Đặng Thái Quý, Lê Ho ng Bảo Nhi, Võ Văn X, Phan Tấn Th, bên trong c chứa 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt h n kính. Mẫu gửi giám định l ma túy loại: Methamphetamine, có khối lượng 0 0563 gam.
Căn cứ Kết luận giám định số 247 ng y 03-9-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an t nh An Giang kết luận: 01 phong bì m u trắng được niêm phong c đ ng dấu tròn đỏ của Công an thị trấn B C, huyện T T v các chữ ký ghi tên Đặng Thái Quý Lê Ho ng Bảo Nhi Võ Văn X, Phan Tấn Th bên trong c chứa 12 đoạn ống hút nhựa trong suốt h n kính 06 bọc nilon trong suốt h n kín. Mẫu gửi giám định l ma túy loại: Methamphetamine c khối lượng 1 6290 gam.
Quá trình điều tra v tại phiên tòa Kiểm sát viên bị cáo người tham gia tố t ng khác không c ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.
Bản cáo trạng số 09/CT-VKSTT.HS ngày 21 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T T truy tố bị cáo Bùi Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố h nh vi của bị cáo N đủ yếu tố cấu th nh tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đ ng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp d ng điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm r điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Văn N từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Hình phạt bổ sung: Nhận thấy, bị cáo N không c nghề nghiệp thu nhập ổn định v không c chức v , nên đề nghị không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự v Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự xử lý:
Tịch thu tiêu hủy to n bộ ma tuý loại methamphetamine l h ng hoá cấm lưu h nh g m: 01 (một) phong bì m u trắng được niêm phong (v số 246) c in hình dấu tròn đỏ của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện T T v các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H Đặng Thái Quý. Bên trong c mẫu vật còn lại sau khi giám định, khối lượng 0 0327 gam (không ph y không ba hai bảy gam); 01 (một) phong bì m u trắng được niêm phong (v số 247) c in hình dấu tròn đỏ của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện T T và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H Đặng Thái Quý. Bên trong c mẫu vật còn lại sau khi giám định khối lượng 1 5567gam (một ph y năm năm sáu bảy gam);
Đối với 01 (một) chai nhựa trong suốt trên nắp chai c gắn ống hút nhựa m u trắng; 01 (một) quẹt gas m u xanh; 01 (một) chai gas mini c một đầu khò lửa; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại m u trắng; 03 (ba) đoạn nõ thủy tinh c đầu tròn; 12 (mười hai) ống nhựa trong suốt bên trong rỗng; 36 (ba mư i sáu) bọc nilon h n kín một đầu. Đây là công c dùng v o việc phạm tội v vật không còn giá trị sử d ng đề nghị tịch thu tiêu hủy;
Đối với xe mô tô biển số 67B2 – 172.44 nhãn hiệu Wave m u xanh. Qua điều tra xác định thuộc s hữu hợp pháp của ông Nguyễn Vinh S không liên quan đến v án đề nghị trả lại xe mô tô cho ông Sang.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA m u đen gắn sim số thuê bao 0355554362 đã qua sử d ng. Đây l công c m bị cáo dùng để liên hệ mua bán ma túy đề nghị tịch thu sung v o ngân sách nh nước.
Đối với số tiền 306.000 đ ng đã thu giữ của bị cáo, đây l tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma túy mà có nên đề nghị tịch thu sung v o ngân sách Nh nước. Ngo i ra bị cáo khai bán ma túy cho Thắng 05 lần trước đ thu lợi 400.000 đ ng đây l tiền thu lợi bất chính đề nghị buộc bị cáo giao nộp để sung v o nhân sách nh nước.
Việc Đặng Th nh L khai mua ma túy của bị cáo N 03 lần nhưng không nhớ thời gian, Lợi không c mặt tại địa phư ng ngo i lời khai của Lợi không c chứng cứ khác để chứng minh nên C quan điều tra không quy kết đối với bị cáo l c căn cứ.
Việc Phan Tấn Th có hành vi mua trái phép 0,0563 gam Methamphetamine để sử d ng. Do chưa đủ khối lượng v Thắng chưa c tiền án tiền sự nên C quan điều tra đề nghị xử lý h nh chính l c căn cứ.
Hành vi Nguyễn Vinh S tự ý v o sử d ng ma túy của bị cáo N. Nhận thấy không c sự rủ rê lôi kéo hoặc thu lợi trong việc sử d ng ma túy nên C quan điều tra không xem xét xử lý h nh vi chứa chấp tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy l phù hợp.
Đối với ông Bùi Mạnh H, bà Nguyễn Thị L không biết bị cáo sử d ng ma túy v bán ma túy tại nh nên C quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự l hợp lý.
Đối tượng tên Hùm chưa rõ họ địa ch C quan cảnh sát điều tra tiếp t c xác minh l m rõ xử lý sau.
Bị cáo không tranh luận.
Lời n i sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :
Trên c s nội dung v án căn cứ v o các t i liệu trong h s v án đã được th m tra xét hỏi tranh luận tại tòa Hội đ ng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về h nh vi quyết định tố t ng của C quan điều tra Công an huyện Tri Tôn Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo những người tham gia tố t ng khác không c ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi quyết định của C quan tiến h nh tố t ng người tiến h nh tố t ng. Do đ các h nh vi quyết định tố t ng của C quan tiến h nh tố t ng người tiến h nh tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do bắt đầu sử d ng ma túy từ năm 2017 v bắt đầu bán ma túy từ tháng 8/2021. Nên khoảng 06 giờ ng y 27-8-2021, sau khi liên hệ qua điện thoại với người tên Hùm bị cáo mượn xe mô tô biển số 67B2- 172.44 của Nguyễn Vinh S đến khu vực kênh 23 thuộc xã An Nông huyện T B t nh An Giang mua 2.000.000 đ ng ma túy từ một người thanh niên (không biết tên địa ch ) số ma túy để trong c c xạc dự phòng sau khi mua xong bị cáo đem về nh cất giấu m c đích để bán thu lợi nhuận. Khi n y Thắng đem tiền đến trả cho bị cáo 120.000 đ ng do Thắng thiếu khi mua ma túy vài ngày trước. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ng y Thắng quay lại gặp bị cáo mua 200.000 đ ng ma túy khi bị cáo nhận tiền v lấy tép ma túy trong c c xạc dự phòng ra đưa cho Thắng thì bị bắt quả tang. Công an khám xét nh của bị cáo phát hiện bên trong c c xạc dự phòng để dưới nệm thu giữ thêm 12 đoạn ống hút nhựa trong suốt h n kín hai đầu v 06 bọc nilon trong suốt h n kín bên trong đều chứa ma túy cùng một số d ng c phân tách sử d ng ma túy v điện thoại di động xe mô tô biển số 67B2-172.44 số tiền 306.000 đ ng.
Ngo i ra trước đ bị cáo đã bán ma túy cho Thắng 04 lần nhưng không nhớ thời gian ch nhớ có lần Thắng mua 200.000 đ ng nhưng trả tiền 80.000 đ ng nợ lại 120.000 đ ng đến ng y 27-8-2021 Thắng đem tiền đến trả 120.000 đ ng cho bị cáo.
[3] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai nhận tại C quan điều tra v cũng phù hợp với lời khai của những người c quyền lợi nghĩa v liên quan v người chứng kiến cũng như các kết luận giám định số 246 ngày 02-9-2021 v số 247 ng y 03-9-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an t nh An Giang cùng các chứng cứ khác trong quá trình điều tra đã thu thập được. Từ đ Hội đ ng xét xử có đủ c s kết luận: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 27-8-2021, Tại nh bị cáo thuộc kh m An Hòa B thị trấn B C, huyện T T, bị cáo đang lấy 01 tép ma túy bán cho Phan Tấn Th với giá 200.000 đ ng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Loại ma tuý m bị cáo bán cho Thắng l Methamphetamine c tổng khối lượng l 0,0563 gam ngo i ra bị cáo còn bán ma túy cho Thắng 04 lần khác nhưng không nhớ c thể thời gian nhưng ng y 28-7-2021 Thắng c đến nh trả cho bị cáo số tiền mua ma túy còn nợ l 120.000 đ ng. Khi Công an khám xét nh của bị cáo phát hiện bên trong c c xạc dự phòng để dưới nệm thu giữ thêm 12 đoạn ống hút nhựa trong suốt h n kín hai đầu v 06 bọc nilon trong suốt h n kín bên trong đều chứa ma túy loại ma tuý m bị cáo cất giấu để bán l Methamphetamine c tổng khối lượng l 1,6290 gam. H nh vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do bị cáo đã nhiều lần bán ma túy cho Thắng nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự l đúng người đúng tội v đúng quy định pháp luật.
Bị cáo đã thực hiện h nh vi phạm tội một cách cố ý, c ý thức khi thực hiện h nh vi phạm tội dù biết rằng ma túy l một tệ nạn xã hội bị nh nước nghiêm cấm hành vi mua bán trái phép chất ma túy l vi phạm pháp luật nhưng vì m c đích lợi nhuận cũng như thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà bị cáo sẳn s ng thực hiện h nh vi phạm tội, bất chấp hậu quả xảy ra.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phư ng tạo sự lo lắng bất an trong quần chúng nhân dân. Xét về nhân thân, bị cáo l người đã trư ng th nh c đầy đủ sức khỏe, lẽ ra bị cáo phải biết phấn đấu lao động, học tấp chí thú l m ăn để nuôi vợ con, trái lại bị cáo lao vào nghiện ngập, không chí thú l m ăn, sẵn sàng bán ma túy vì lợi nhuận, bất chấp pháp luật. Cần phải áp d ng một chế tài hình phạt tư ng xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo d c, cải tạo bị cáo sớm tr thành người công dân có ích cho gia đình v xã hội, đ ng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo th nh kh n khai báo ăn năn hối cải tự thú khai nhận những lần bán ma túy cho Thắng c cậu ruột l người c công với cách mạng nên được áp d ng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp d ng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy bị cáo không c nghề nghiệp chức v thu nhập không ổn định. Vì vậy, không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng của v án:
Đối với 01 (một) phong bì m u trắng được niêm phong (v số 246), có in hình dấu tròn đỏ của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện T T v các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H Đặng Thái Quý. Bên trong c mẫu vật còn lại sau khi giám định khối lượng 0 0327 gam (không ph y không ba hai bảy gam); 01 (một) phong bì m u trắng được niêm phong (v số 247) c in hình dấu tròn đỏ của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện T T v các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H Đặng Thái Quý. Bên trong c mẫu vật còn lại sau khi giám định khối lượng 1 5567gam (một ph y năm năm sáu bảy gam). Đây l ma túy loại Methamphetamine cấm lưu h nh nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chai nhựa trong suốt trên nắp chai c gắn ống hút nhựa m u trắng; 01 (một) quẹt gas m u xanh; 01 (một) chai gas mini c một đầu khò lửa; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại m u trắng; 03 (ba) đoạn nõ thủy tinh c đầu tròn; 12 (mười hai) ống nhựa trong suốt bên trong rỗng; 36 (ba mư i sáu) bọc nilon h n kín một đầu. Đây l công c dùng v o việc phạm tội v vật không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với xe mô tô biển số 67B2 – 172.44 nhãn hiệu Wave m u xanh. Qua điều tra xác định thuộc s hữu hợp pháp của ông Nguyễn Vinh S không liên quan đến v án nên trả lại xe mô tô cho ông Sang.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA m u đen gắn sim số thuê bao 0355554362 đã qua sử d ng. Bị cáo dùng l m công c thực hiện h nh vi phạm tội nên tịch thu sung v o ngân sách nh nước.
Đối với số tiền 306.000 đ ng đã thu giữ đây l tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma túy nên tịch thu sung v o ngân sách Nh nước. Số tiền 400.000 đ ng m bị cáo đã thu lợi từ các lần bán ma túy trước đ đây l tiền thu lợi bất chính nên bị cáo c trách nhiệm giao nộp để sung v o ngân sách nh nước.
Việc Đặng Th nh L khai mua ma túy của bị cáo N 03 lần nhưng không nhớ thời gian Lợi không c mặt tại địa phư ng ngo i lời khai của Lợi không c chứng cứ khác để chứng minh nên C quan điều tra không quy kết đối với bị cáo N l c căn cứ.
Việc Phan Tấn Th có hành vi mua trái phép 0 0563 gam Methamphetamine để sử d ng. Do chưa đủ khối lượng v Thắng chưa c tiền án tiền sự nên C quan điều tra đề nghị xử lý h nh chính l c căn cứ.
Hành vi Nguyễn Vinh S tự ý v o sử d ng ma túy của bị cáo. Nhận thấy không c sự rủ rê lôi kéo hoặc thu lợi trong việc sử d ng ma túy nên C quan điều tra không xem xét xử lý h nh vi chứa chấp tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy l phù hợp.
Đối với ông Bùi Mạnh H, bà Nguyễn Thị L không biết bị cáo sử d ng ma túy v bán ma túy tại nh nên C quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự l hợp lý.
Đối tượng tên Hùm chưa rõ họ địa ch C quan cảnh sát điều tra tiếp t c xác minh l m rõ xử lý sau.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự s th m theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30-12-2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý v sử d ng án phí v lệ phí.
Vì các lẽ trên
QUYẾT Đ NH
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N (Tên gọi khác: Khỏe) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp d ng điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm r điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ng y bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam 27-8-2021 (ngày hai mư i bảy tháng tám năm hai nghìn không trăm hai mư i mốt).
Áp d ng Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự v Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì m u trắng được niêm phong (v số 246) c in hình dấu tròn đỏ của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện T T và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H Đặng Thái Quý. Bên trong c mẫu vật còn lại sau khi giám định khối lượng 0 0327 gam (không ph y không ba hai bảy gam); 01 (một) phong bì m u trắng được niêm phong (v số 247) c in hình dấu tròn đỏ của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện T T v các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H Đặng Thái Quý. Bên trong c mẫu vật còn lại sau khi giám định khối lượng 1,5567gam (một ph y năm năm sáu bảy gam); 01 (một) chai nhựa trong suốt trên nắp chai c gắn ống hút nhựa m u trắng; 01 (một) quẹt gas m u xanh; 01 (một) chai gas mini c một đầu khò lửa; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại m u trắng; 03 (ba) đoạn nõ thủy tinh c đầu tròn; 12 (mười hai) ống nhựa trong suốt bên trong rỗng; 36 (ba mư i sáu) bọc nilon h n kín một đầu.
Tịch thu sung v o ngân sách Nh nước số tiền 306.000 đ ng (ba trăm lẽ sáu nghìn đ ng) v 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA m u đen gắn sim số thuê bao 0355554362 đã qua sử d ng.
Buộc bị cáo giao nộp số tiền 400.000 đ ng (bốn trăm nghìn đ ng) sung v o ngân sách nh nước.
Trả lại cho ông Nguyễn Vinh S xe mô tô biển số 67B2 – 172.44 nhãn hiệu Wave màu xanh.
(Vật chứng do Chi c c thi h nh án dân sự huyện T T quản lý theo biên bản giao nhận ng y 25-3-2022 của C quan điều tra Công an huyện T T).
Áp d ng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự v điểm a khoản 1 Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30-12-2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý v sử d ng án phí v lệ phí;
Bị cáo Bùi Văn N phải chịu 200.000 đ ng (hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự s th m.
Trong hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án, bị cáo người c quyền lợi, nghĩa v liên quan c quyền kháng cáo. Đư ng sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ng y kể từ ng y được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự người phải thi h nh án dân sự c quyền thỏa thuận thi h nh án quyền yêu cầu thi h nh án tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6 7 7a v 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.
TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND t nh AG; - VKSND huyện; - THADS huyện; - S tư pháp AG; - THAHS; - BC; - ĐS; - Lưu HS. | THẨM PHÁN – CHỦ T A PHI N TÒA Đ V H |