vanban.org

Bản án 09/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án 21/01/2022.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến C cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án 21/01/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-ST
Ngày 21-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Luân.

2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hiền – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Sen – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến C, sinh năm 1977 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lái xe ô tô; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V và bà Nguyễn Thị K; vợ là Trần Thị Đ và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Mã Thị L, sinh năm 1992 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của chị Linh:

1. Ông Mã Văn T, sinh năm 1964 (là bố đẻ chị ).

2. Bà Hoàng Thị G, sinh năm 1959 (là mẹ đẻ chị L).

Đều có nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.

(Bà G ủy quyền toàn bộ cho ông T. Ông T vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ X, phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 15/5/2021, Nguyễn Tiến C là lái xe thuê cho anh Nguyễn Văn N, trú tại tổ X, phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam (C có giấy phép lái xe hạng C theo quy định), điều khiển xe ô tô tải biển số: 90C-03xxx đi từ bãi xe của anh N ở phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam đến bãi san lấp của Công ty J trong khu Công nghiệp Đồng Văn IV thuộc xã Đại Cương, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam để san lấp mặt bằng cho công ty. Khoảng 17 giờ cùng ngày khi hết giờ làm việc, C điều khiển xe ô tô đi từ bãi san lấp của Công ty J về bãi xe của anh N theo đường nội bộ khu công nghiệp (đường song song với QL38), khi đi tới vòng xuyến trước cổng khu công nghiệp Đồng Văn IV, C điều khiển xe đi theo vòng xuyến cách mép đường bên phải khoảng 02 mét và rẽ trái hướng ra đường QL38 với tốc độ 38km/h. Quan sát thấy phía trước có 02 xe mô tô đi cùng chiều đã rẽ phải vào đường QL38, tiếp tục quan sát gương chiếu hậu bên phải xe ô tô, C không thấy có phương tiện nào đi phía sau. Khi đầu xe ô tô cách mép đường QL38 khoảng 5 đến 7 mét, C giữ tốc độ 38km/h, không bật đèn báo hiệu xi nhan bên phải và đánh lái sang phải rẽ vào đường QL38 hướng đi Đồng Văn. Lúc này chị Mã Thị L điều khiển xe mô tô biển số: 90H5-4xxx từ trong khu công nghiệp Đồng Văn IV đi ra và vượt bên phải xe ô tô biển số: 90C – 03xxx. Ngay lúc này C đánh lái xe rẽ phải đi vào đường QL38 được 1,09m thì bên phải đầu xe ô tô va chạm vào bên trái xe mô tô, xe mô tô và chị L bị đổ xuống đường ngay phía trước đầu xe ô tô. Xe mô tô bị kẹt phía dưới trục bánh phía trước của xe ô tô và bị đẩy theo xe ô tô về phía trước 28,5 mét thì dừng lại. Chị L bị cuộn phía dưới gầm xe dẫn đến thương tích tử vong tại hiện trường.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại Km 88 + 450 Quốc lộ 38 ngã ba giao nhau với đường khu công nghiệp Đồng Văn IV. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường đôi có dải phân cách cứng giữa tim đường chia hai chiều đường. Chiều đường Kim Bảng - Đồng Văn mặt đường thẳng, bằng phẳng, được chia thành hai làn đường, làn đường bên phải rộng 6,9 mét, làn đường bên trái rộng 3,35 mét, hai làn đường được phân chia bởi vạch sơn màu trắng nét đứt rộng 0,15 mét. Phần đường xe chạy được giới hạn bởi vạch sơn màu trắng nét liền hai bên, mỗi vạch sơn rộng 0,2 mét. Tại khu vực hiện trường có khoảng mở của dải phân cách dựng biển “Cấm đi ngược chiều” ở hai đầu khoảng mở, biển báo “Giao nhau với đường không ưu tiên”, vạch sơn giảm tốc độ. Tiếp giáp bên phải đường là rãnh thoát nước rộng 0,7 mét, đầu nối vào khu công nghiệp Đồng Văn IV. Tại đầu nối vào này có vạch sơn kinh hoá dòng xe, biển báo “Giao nhau với đường ưu tiên”. Tiếp giáp bên trái đường là dải phân cách, cách phần đường xe chạy 0,4 mét và chiều đường Đồng Văn - Kim Bảng. Lấy đầu khoảng mở của dải phân cách phía Đồng Văn (tính theo chiều Kim Bảng - Đồng Văn) là mốc của hiện trường. Lấy mép đường bên phải chiều Kim Bảng - Đồng Văn là mép đường chuẩn, đo vuông góc tới vị trí các dấu vết thu được kết quả như sau:

Toàn bộ dấu vết, nạn nhân, phương tiện đều ở trên làn đường bên phải chiều Kim Bảng - Đồng Văn. Ký hiệu (1) là tổ hợp vết mài sạt không liên tục hướng Kim Bảng - Đồng Văn dài 28,5 mét, rộng nhất 0,95 mét. Điểm gần nhất đầu dấu vết (1) cách mép đường chuẩn 1,9 mét; cuối dấu vết (1) kết thúc tại bên phải xe mô tô ký hiệu (4). Đầu vết (1) cách đỉnh đầu nạn nhân (2) về phía Đồng Văn 12 mét. Ký hiệu (2) là nạn nhân nữ giới. Nạn nhân (2) trong tư thế nằm ngửa, đầu quay về phía Kim Bảng, chân phải co, chân trái duỗi thẳng. Đỉnh đầu (2) cách mép đường 4,3 mét, gót chân trái (2) cách mép đường chuẩn 4,2 mét, đỉnh đầu và gót chân trái nạn nhân (2) cách nhau 1,6 mét. Gót chân trái (2) cách trục sau cùng bên phải xe ô tô (3) về phía Đồng Văn 7,9 mét. Ký hiệu (3) là xe ô tô biển số: 90C – 03xxxx. Xe ô tô (3) trong trạng thái đỗ, đầu xe quay về phía Đồng Văn. Tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô (3) cách mép đường 2 mét, tâm trục sau cùng bên phải xe ô tô (3) cách mép đường chuẩn 2,6 mét. Tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô (3) cách tâm trục bánh sau xe mô tô (4) về phía Đồng Văn 0,9 mét. Xe mô tô ký hiệu (4) biển số: 90H5 – 4xxx, xe đổ nghiêng bên phải ép sát phía dưới trục bánh trước xe ô tô (3), đầu xe mô tô (4) quay về phía Kim Bảng. Tâm trục bánh trước xe mô tô (4) cách mép đường 1,7 mét, tâm trục bánh sau xe mô tô (4) cách mép đường 2,7 mét. Đầu dấu vết (1) cách tâm dấu vết (5) về phía Đồng Văn 12,45 mét. Ký hiệu (5) là khu vực nhựa vỡ, dép rơi kích thước trên diện (11 x 3,8) mét. Tâm dấu vết (5) cách mép đường 4,55 mét. Mép đường chuẩn cách chân cột biển báo “Giao nhau với đường ưu tiên” về phía khu công nghiệp Đồng Văn IV 5 mét. Đầu dấu vết (1) cách mép đường bên phải đường khu công nghiệp Đồng Văn IV (tính từ khu công nghiệp Đồng Văn IV ra QL38) về phía Kim Bảng 7,3 mét. Đầu dấu vết (1) cách mốc chuẩn của hiện trường về phía Đồng Văn 1,9 mét. Kiểm tra khu vực xung quanh không phát hiện dấu vết gì liên quan đến vụ tai nạn.

Vật chứng thu giữ tại hiện trường gồm:

- Chiếc xe ô tô nhãn hiệu SHACMAN, biển số: 90C – 03xxxx, số khung: LZGJRHR68FX018707; số máy: WP10340E321615E038418.

- Chiếc xe mô tô biển số: 90H5 – 4xxx, nhãn hiệu ATTILA, số khung: RLGKA12GD8D002681; số máy: VMVTBAD002618, xe đã qua sử dụng, hư hỏng do tai nạn giao thông; 02 mảnh nhựa mặt nạ phía trước đầu xe mô tô biển số: 90H5 – 4889 cùng 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thị N.

- Tạm giữ 01 đĩa CD-R nhãn hiệu maxell màu vàng, bên trong lưu trữ 01 video có độ dài 01 phút 19 giây, thu tại mắt Camera số 23 tại khu vực Cổng khu công nghiệp Đồng Văn IV chiếu ra đường QL38, niêm phong trong túi mã số NS3A 112104.

Khai thác dữ liệu đĩa CD, thấy: Tại giây thứ 05 xuất hiện 01 xe ô tô tải không rõ biển kiểm soát đi từ cổng khu công nghiệp hướng ra đường QL38, rẽ phải đi về hướng Đồng Văn. Cùng lúc đó tại giây thứ 9 xuất hiện 01 người phụ nữ điều khiển xe mô tô không rõ biển kiểm soát đi từ cổng khu công nghiệp hướng ra đường QL38, rẽ phải đi về hướng Đồng Văn. Sau đó tại giây thứ 13 khi 02 phương tiện trên cùng rẽ phải về hướng Đồng Văn thì 02 phương tiện xảy ra va chạm vào phần đầu hông xe bên phải của xe ô tô, xe ô tô tiếp tục tiến về phía trước đến khi bị khuất tầm nhìn khỏi camera số 23.

Tạm giữ của Nguyễn Tiến C gồm:

+ 01 căn cước công dân số: 035077001733 mang tên Nguyễn Tiến C.

+ 01 giấy phép lái xe hạng C số: 790083244612 mang tên Nguyễn Tiến C.

+ 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 024966 của xe ô tô biển số: 90C – 03xxx.

+ 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm số: 4240825 của xe ô tô biển số: 90C – 03xxx.

+ 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số: CI20CB - 0134468 của xe ô tô biển số: 90C – 03xxx.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Khám ngoài:

- Nhận dạng tử thi: Tử thi nữ giới, được xác định là chị Mã Thị L, sinh năm 1992, nơi cư trú: Xóm N, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Thể tạng trung bình, chiều dài 155cm, không có thai. Bên ngoài mặc áo chống nắng màu vàng sẫm hoa văn đen, bên trong mặc áo phông cộc tay màu vàng, quần gió màu hồng.

- Tình trạng tử thi: Lạnh tử thi rõ, mắt nhắm, đồng tử giãn, miệng ngậm, lưỡi sau cung răng.

- Dấu vết thương tích: Sây sát da vùng mặt bên phải, kích thước (15 x 5) cm, hướng từ trên xuống dưới. Sây sát da má trái - cổ trái, diện (13 x 10) cm, hướng từ dưới lên trên. Sờ nắn thấy gãy xương hàm dưới trái. Hai lỗ mũi và miệng có nhiều dịch máu. Sây sát, bầm tím ngực, diện (32 x 15) cm, hướng từ trên xuống dưới. Sờ nắn thấy tràn khí dưới da, gãy xương ức, xương đòn trái, cung trước xương sườn 1, 2, 3, 4 trái và xương sườn 3, 4, 5 phải. Sây sát da thành bụng phải, kích thước (4,5 x 01) cm, hướng từ trên xuống dưới. Rách da lộ cân, cơ mặt trước trong 1/3 trên cánh tay phải, kích thước (13 x 5) cm, trên diện sây sát (22 x 8) cm, hướng từ trên xuống dưới. Sờ nắn thấy gãy 1/3 giữa xương cánh tay phải. Sây sát da mu - bàn - ngón tay phải, diện (9 x 8) cm hướng từ trên xuống dưới. Sây sát da mặt sau 1/3 trên cánh tay trái, kích thước (6 x 3) cm, hướng từ dưới lên trên. Sây sát da mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái, kích thước (5 x 2) cm, hướng từ dưới lên trên. Sây sát da mu

- bàn - ngón tay trái, diện (14 x 11) cm, hướng từ trên xuống dưới. Sây sát da gối và mặt trước cẳng chân phải, diện (32 x 9) cm, hướng từ trên xuống dưới. Rách da mu và khe liên đốt 2, 3, 4 bàn chân phải lộ đầu xương gãy (xương đốt 1 ngón III và đốt 1 ngón IV), trên diện sây sát (18 x 11) cm hướng từ trước ra sau. Sây sát bầm tím mặt ngoài đùi - gối - cẳng chân trái, diện (50 x 18) cm, hướng từ trên xuống dưới. Sây sát da mặt sau cẳng chân trái, kích thước (14 x 6) cm, hướng từ dưới lên trên. Sây sát, bầm tím vùng vai và lưng, diện (50 x 40) cm, nhiều hướng khác nhau. Sờ nắn thấy gãy xương vai trái. Sây sát vùng mông trái, kích thước (5 x 4) cm, hướng từ trên xuống dưới. Gáy sưng nề, sờ nắn thấy gãy xương cột sống cổ. Ngoài ra kiểm tra không thấy thương tích bên ngoài nào khác.

Khám trong:

- Cổ: Cơ quanh cột sống cổ bầm tụ máu, gãy rời đốt sống 2, 3, đứt tuỷ sống.

- Đầu, ngực, bụng: Gia đình từ chối mổ.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Kết quả khám nghiệm xe ô tô tải biển số 90C-03xxx: Nhãn hiệu SHACMAN; loại xe tải tự đổ; số khung: LZGJRHR68FX018707; số máy: WP10340E321615E038418:

Phía dưới mặt hông cabin bên phải có vết sạt sạch bụi bẩn kích thước (65 x 24) cm hướng từ trên xuống dưới, từ sau về trước, điểm cao nhất vuông góc cách mặt đất 1,44 mét, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 1,24 mét. Mặt ngoài phần tai xe bên phải (cách bậc lên xuống cabin bên phải) có vết sạt sạch bụi bẩn kích thước (0,5 x 44) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 110cm, điểm cao nhất vuông góc cách mặt đất 150 cm. Mặt dưới lốc máy có vết trượt sạch bụi trơ kim loại hướng từ trước về sau kích thước (22 x 20) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 53 cm. Mặt trước dưới trục bánh thứ nhất và thanh giằng lái có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau dính chất màu trắng (nghi sơn) kích thước (100 x 24) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 28 cm. Mặt dưới hộp số có vết mài sạt hướng từ trước về sau kích thước (21 x 12) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 42 cm. Mặt trong lốp thứ nhất bên phải từ trên xuống có vết trượt cao su hướng từ ngoài vào tâm trục kích thước (22 x 3) cm, điểm thấp nhất cách chữ C trên dòng chữ CR296 là 68 cm theo chiều tiến của bánh. Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn, còi, lốp, gương, gạt nước hoạt động bình thường.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển số 90H5 – 4xxx: Nhãn hiệu ATTILA, loại xe nữ, màu sơn trắng; số khung: RLGKA12GD8D002681; số máy: VMVTBAD002618:

Gương chiếu hậu bên trái bị vỡ, ốp kim loại gương chiếu hậu này bị bẹp méo từ ngoài vào trong. Cụm đồng hồ gãy khỏi các chốt hãm giữ lại hệ thống dây điện. Cụm đèn pha xi nhan phải, trái gãy rời khỏi xe. Ốp nhựa đầu xe bị nứt vỡ bật chốt trên diện (35 x 14) cm. Mặt nạ phía trước đầu xe bật chốt rời khỏi xe. Chắn bùn phía trước bánh trước gãy trên diện (24 x 12) cm, cạnh trước bên phải ốp kim loại chắn bùn này có vết mài sạt kim loại hướng từ sau về trước kích thước (7 x 2) cm. Đầu tay lái phải có vết mài sạt kim loại kích thước (1,5 x 1) cm. Cạnh bên phải khung kim loại bảo vệ bên phải thân xe có vết mài sạt kim loại trên diện (1,25 x 1) cm hướng từ sau về trước. Yếm chắn gió bên phải có vết mài sạt nhựa kích thước (36 x 10) cm. Đầu bệ để chân người ngồi trước bên phải có vết mài sạt nhựa kích thước (10 x 7) cm. Mặt ngoài càng xe phía trước bên phải và ốc trục xe này có vết mài sạt kim loại kích thước (6,5 x 7) cm. Mặt trước để chân bên phải người ngồi sau có vết mài sạt kim loại kích thước (2,5 x 0,3) cm hướng từ sau về trước. Tay lái bên trái bị đẩy cong từ sau về trước, từ trên xuống dưới lệch so với tay lái bên phải 25 cm. Mặt ngoài ốp nhựa ống xả có vết mài sạt nhựa kim loại kích thước (12 x 8) cm hướng từ trước về sau. Mặt sau tay lái bên trái có vết mài sạt kim loại bám dính chất màu xanh kích thước (7 x 1,5) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 79 cm. Mặt ngoài bên trái khung kim loại bảo vệ yếm và thân xe bên trái có vết mài sạt kim loại kích thước (78 x 1) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 16 cm. Mặt sau ốp nhựa cổ xe có vết mài sạt vỡ nhựa bám dính chất màu nâu kích thước (45 x 10) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 30cm. Mặt ngoài cánh yếm bên trái có vết mài sạt nhựa hướng từ sau về trước, bám dính chất màu nâu kích thước (36 x 3) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 15 cm. Mặt ngoài phía trước càng xe bên trái có vết mài sạt kim loại kích thước (5 x 3) cm hướng từ trước về sau. Mặt bên trái yên xe có vết mài sạt rách thủng bám dính chất màu nâu (nghi bùn đất) kích thước (63 x 18) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 66cm. Mặt ngoài khung kim loại bảo vệ phía sau thân xe có vết mài sạt kim loại bám dính bụi đá, chất màu xanh (nghi sơn) hướng từ trên xuống dưới trên diện (22 x 30) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 37 cm. Ốp nhựa sau thân xe có vết mài sạt nhựa bám dính chất màu xanh kích thước (4,5 x 5) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 50 cm. Mặt trên tay xách đuôi xe có vết mài sạt kim loại hướng từ sau về trước kích thước (12 x 3) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 80 cm. Đèn báo hãm có vết mài sạt vỡ nhựa hướng từ trái sang phải kích thước (12 x 3,5) cm, điểm thấp nhất vuông góc cách mặt đất 76,5 cm.

Kiểm tra mảnh nhựa mặt nạ trước đầu xe: Cạnh bên trái có vết mài sạt nứt vỡ nhựa hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới kích thước (25 x 17) cm, đèn xi nhan trước vỡ toàn bộ.

Hệ thống xi nhan, phanh hoạt động bình thường. Các hệ thống khác không kiểm tra được do xe bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm tử thi Mã Thị L:

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 50/21/TT ngày 10/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định.

+ Chấn thương cột sống cổ: Gáy sưng nề, cơ xung quanh cột sống cổ bầm tím tụ máu, gãy rời đốt sống 2, 3, đứt tuỷ sống.

+ Dấu hiệu chấn thương hàm - mặt: Sây sát da vùng mặt, gãy xương hàm dưới trái.

+ Dấu hiệu chấn thương ngực kín: Sây sát, bầm tím vùng ngực, gãy xương đòn trái, gãy xương ức, nhiều xương sườn hai bên và xương vai trái.

+ Dấu hiệu chấn thương chi: Rách da lộ cân, cơ cánh tay phải. Gãy xương cánh tay phải, gãy xương đốt 1 ngón III và đốt 1 ngón IV bàn chân phải.

- Nguyên nhân chết:

Nạn nhân Mã Thị L tử vong do gãy xương cột sống cổ, đứt tuỷ sống trên người có đa chấn thương nặng.

- Cơ chế hình thành vết thương: Qua khám dấu vết bên ngoài và bên trong nhận định:

+ Chấn thương cột sống cổ do vùng mặt va đập mạnh với vật tày làm xoắn vặn quá mức gây gãy xương cột sống cổ, đứt tuỷ sống.

+ Chấn thương ngực và chi do tác động mạnh với vật tày diện giới hạn gây nên”.

Kết quả giám định của tệp video có tên: “9105403050570849328.mp4”, thời lượng 01 phút 19 giây được lưu trữ trong 01 đĩa CD-R nhãn hiệu Maxell được niêm phong:

Tại Bản kết luận giám định số 5054/C09-P6 ngày 16/8/2021 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận:

- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp video mẫu cần giám định. (Hình ảnh trong tệp video này ghi lại nội dung hình ảnh hiển thị trên màn hình của thiết bị khác, tuy nhiên không đủ cơ sở để xác định nội dung hình ảnh hiển thị trên màn hình của thiết bị khác có cắt ghép chỉnh sửa nội dung hay không)

- Đã làm rõ nét hình ảnh chiếc xe ô tô tải có thùng không có mái che (xuất hiện trên màn hình hiển thị từ giây thứ 05 theo thời lượng của tệp video). Tuy nhiên không phát hiện thấy chiếc xe ô tô tải bật đèn xi nhan (đèn tín hiệu báo hướng rẽ) bên phải phía sau đuôi xe ô tô của tệp video mẫu cần giám định.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKSKB ngày 02/01/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 03 năm đến 04 năm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét. Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe môtô biển số 90H5-4xxx và 01 đăng ký xe; trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Tiến C; tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến C khai nhận toàn bộ hành vi lái xe ô tô gây tai nạn làm chị Mã Thị L bị tử vong đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Tiến C tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện giao thông và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 17 giờ ngày 15/5/2021, tại km 88 + 450 QL38 ngã ba giao nhau với đường khu công nghiệp Đồng Văn IV thuộc thôn Thịnh Đại, xã Đại Cương, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, bị cáo Nguyễn Tiến C có giấy phép lái xe hạng C theo quy định điều khiển xe ô tô tải biển số: 90C – 03xxx đi theo đường nội bộ khu công nghiệp với tốc độ 38 km/h rẽ phải đi vào đường QL38 không giảm tốc độ, không bật đèn báo hiệu xi nhan bên phải, cùng lúc đó chị Mã Thị L điều khiển xe mô tô biển số: 90H5-4xxx vượt bên phải xe ô tô biển số: 90C – 03xxx đi vào đường QL 38 dẫn đến phần đầu phía trước bên phải xe ô tô biển số: 90C – 03xxx và chạm vào bên trái xe mô tô biển số: 90H5-4xxx làm chị L ngã xuống đường ngay phía trước đầu xe ô tô và bị cuộn phía dưới gầm xe dẫn đến tử vong tại hiện trường.

Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đã làm chị Mã Thị L tử vong, gây tổn thất về mặt tinh thần cho gia đình người bị hại. Do vậy, hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển hướng không giảm tốc độ, không có tín hiệu báo hướng rẽ đã vi phạm khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của gia đình bị hại đã có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, vì vậy bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Tiến C có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, thấy không cần thiết phải cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật.

- Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, Nguyễn Tiến C cùng với chủ xe ô tô là anh Nguyễn Văn N đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình chị Mã Thị L số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Hai bên đã thống nhất hoà giải tình cảm, đại diện gia đình chị Mã Thị L đã viết đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Tiến C và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với hư hỏng của chiếc xe ô tô tải biển số: 90C – 03xxx, theo bản kết luận định giá tài sản số 31/KLĐG ngày 16/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Kim Bảng xác định chi phí khắc phục sửa chữa chiếc xe là 3.200.000 đồng, tuy nhiên chủ sở hữu chiếc xe là anh Nguyễn Văn N không yêu cầu bị cáo bồi thường. Đối với chiếc xe mô tô biển số: 90H5 – 4xxx là tài sản hợp pháp của chị Mã Thị L mua và sử dụng sau khi đến Hà Nam làm công nhân, ông Mã Văn T là bố đẻ của chị L không yêu cầu bị cáo bồi thường, vì vậy trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc xe ô tô biển số: 90C – 03xxx; 01 giấy đăng ký xe ô tô; 01 giấy chứng nhận kiểm định và giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn N nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Kim Bảng đã trả lại chiếc xe cùng toàn bộ giấy tờ cho anh N là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với chiếc xe môtô biển số 90H5-4xxx và 01 đăng ký của xe là tài sản hợp pháp của chị Mã Thị L, người đại diện hợp pháp của chị L là ông Mã Văn T có đơn xin được nhận lại chiếc xe để sửa chữa làm phương tiện đi lại, vì vậy cần trả lại chiếc xe nêu trên cùng đăng ký xe cho ông T.

- Đối với 01 giấy phép lái xe và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Tiến C là giấy tờ chính đáng của bị cáo không liên quan đến tội phạm, do vậy cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 đĩa CD trích xuất hình ảnh Camera an ninh là tài liệu chứng minh hành vi gây tai nạn của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án 21/01/2022.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến C cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho ông Mã Văn T 01 chiếc xe mô tô biển số 90H5-4xxx, nhãn hiệu ATTILA, màu sơn trắng, số khung: RLGKA12GD8D002681; số máy: VMVTBAD002681, dung tích 124, xe đã qua sử dụng, mặt nạ phía trước đầu xe bị vỡ rời khỏi xe, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông và 02 mảnh nhựa mặt nạ phía trước đầu xe mô tô biển số 90H5-4889 (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06-01-2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).

- Trả lại cho ông Mã Văn T 01 đăng ký xe mô tô biển số 90H5-4xxx mang tên Nguyễn Thị N.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến C 01 Giấy phép lái xe hạng C số: 790083244612 mang tên Nguyễn Tiến C và 01 Căn cước công dân số: 035077001733 mang tên Nguyễn Tiến C.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự./.

Cỡ chữ