vanban.org

Bản án 09/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 22/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng I phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của BLHS; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng I 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND phường Y, thành phố Z, tỉnh Bình Định nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành hình phạt. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng I, sinh năm: 1997 - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng I phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-ST
Ngày: 22/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân

: Ông Nguyễn Đình Phùng.

: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Thanh Việt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Phương Trà – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/HSST- QĐ ngày 06 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng I, sinh năm: 1997 tại Bình Định; nơi cư trú: X, phường Y, thành phố Z, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; con ông: S, sinh năm: 1972 và bà R, sinh năm: 1971; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị ra Quyết định truy nã số 32 và ngày 31/10/2021 bị cáo ra đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

- Bị hại:

Anh K, sinh năm: 1994 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn L, xã M, huyện N, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

L, sinh năm: 1984 (vắng mặt).

Trú tại: P, xã Q, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h30’ ngày 07/01/2021, L điều khiển xe môtô 59U1- 920.71 chạy qua đoạn Quốc lộ 19B thuộc thôn L, xã M, huyện N, tỉnh Bình Định, L phát hiện xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS: 77E1-598.51 của anh K dựng trước hè nhà, trên xe đang gắn chìa khóa, không có ai trông coi. L bỏ xe môtô Sirius 59U1-920.71 trước nhà anh K, rồi lén lút đến lấy trộm xe môtô Exciter 77E1-598.51 điều khiển chạy vào TP Z. Trên đường đi, L tháo biển số xe môtô 77E1-598.51 vứt bỏ. Đến khoảng 20h00’ cùng ngày, L gọi điện thoại cho Nguyễn Trọng I nói: “Tao vừa trộm được xe Exciter, mày có mua không?”, I đồng ý mua và hẹn gặp nhau tại Công viên Long Vân. Sau đó, L điều khiển xe đến Công viên Long Vân bán cho I với giá 12.000.000 đồng và đưa kèm biển số 29C1-762.58 để I sử dụng. Tại đây, I trả trước cho L 2.000.000 đồng, còn lại nợ 10.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Định đã xử lý vật chứng trả lại xe môtô trên cho chủ sở hữu là anh K, anh K không yêu cầu bồi thường.

Ngày 09/3/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phù Cát kết luận xe môtô Exciter 77E1-598.51 trị giá là 22.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSBĐ-P2 ngày 06/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng I về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng I từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Bị cáo không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Nguyễn Trọng I biết rõ xe mô tô Exciter 77E1-598.51 của anh K (trị giá 22.000.000 đồng) mà L đem bán là do trộm cắp mà có, nhưng vì tư lợi cá nhân nên I vẫn đồng ý mua. Do đó bị cáo có hành vi phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng I về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng I gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo ham rẻ mua xe do trộm cắp mà có để sử dụng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ giáo dục bị cáo. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng I phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của BLHS; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng I 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND phường Y, thành phố Z, tỉnh Bình Định nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành hình phạt.

Giao bị cáo Nguyễn Trọng I cho UBND phường Y, thành phố Z, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng I phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nh n:

TM HỘI Đ NG X T X

TH M

- Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;

Cỡ chữ