vanban.org

Bản án 09/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam: 24/8/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "L tàng trữ MT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-ST
Ngày: 24 - 3 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng

2. Ông Nguyễn Bá Long

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Huỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 1995; Tại: Xã Th, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn 8, xã Th, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ch và bà Bùi Thị Nh; Có vợ là Bùi Thị D và có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 24/8/2021 cho đến nay; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/8/2021, Công an xã Thọ Bình, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa đang tuần tra tại khu vực đập làng Tiên thuộc Thôn 11, xã Thọ Bình, huyện Triệu Sơn thì phát hiện Lương Văn Q và Nguyễn Văn L có biểu hiện nghi vấn. Công an xã Thọ Bình tiến hành kiểm tra thì phát hiện và 01 túi ni long màu trắng có mép dính màu trắng, bên trên có viền màu đỏ bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể (nghi là ma túy đá) cách vị trí Q đứng khoảng 01 mét. Tại chỗ Q và L khai nhận đây là ma túy đá do Q và L cùng nhau đi mua để về sử dụng. Quá trình điều tra Q và L khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 14/8/2021, L gọi điện thoại cho Q để nhờ Q mua 300.000đ ma túy đá thì Q đồng ý. Sau đó, L đi xe máy BKS 36B4-901.98 lên xã Thọ Bình đón Q, rồi Q bảo L chở xuống khu vực ngã tư Giắt. Khi đến nơi thì gặp một người đàn ông L không quen biết. L đưa cho người đó 300.000đ, người đó đưa lại cho L một túi ma túy đá. L cầm ma túy rồi đưa lại cho Q mục đích để cùng nhau sử dụng. L chở Q về đến đập làng Tiên, xã Thọ Bình thì bị Công an xã Thọ Bình phát hiện.

Tại bản kết luận giám định số: 2637/PC09 ngày 18/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất rắn màu trắng dạng tinh thể của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,353gam loại: Metham phetamine.

Quá trình điều tra, do nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình nên Cơ quan điều tra đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định pháp y tậm thần số 187/CSĐT ngày 18/10/2021 đối với Lương Văn Q.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-TS ngày 26/01/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Nguyễn Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy là Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ 02 điện thoại; trả lại chiếc xe mô tô cho L và không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Triệu Sơn, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của người làm chứng, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/8/2021, Công an xã Thọ Bình tuần tra phát hiện Lương Văn Q và Nguyễn Văn L có biểu hiện nghi vấn. Công an xã Thọ Bình tiến hành kiểm tra thì phát hiện và 01 túi ni long màu trắng có mép dính màu trắng, bên trên có viền màu đỏ bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể (nghi là ma túy đá) cách vị trí Q đứng khoảng 01 mét. Tại chỗ Q và L khai nhận đây là ma túy đá do Q và L cùng nhau đi mua để về sử dụng. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong gói ma tuý theo quy định. Gói ma túy có khối lượng 0,353gam loại: Methamphetamine. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với Lương Văn Q, sau khi phạm tội Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can. Nhưng qua các tài liệu chứng cứ Q có giấy xác nhận người khuyết tập dạng tâm thần, hàng tháng được hưởng trợ cấp của Nhà nước. Ngày 18/10/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra đã có quyết định trưng cầu giám định tâm thần tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương. Ngày 18/01/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định tách vụ án đối với Lương Văn Q. Xét thấy hiện nay chưa có kết luận giám định đối với Q, nên sẽ tiến hành xử lý sau khi có kết luận giám định tâm thần.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ phép chất ma tuý của L đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, hành vi đó là rất nghiêm trọng, mang tính nguy hiểm cao cho xã hội. Bị cáo phải biết rằng ma tuý là hiểm hoạ, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức và cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng lớn đến trật tự trị an xã hội. Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và nhằm cảnh tỉnh răn đe phòng ngừa những kẻ có ý đồ phạm tội như bị cáo. Nên cần xử cách ly L ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục là cần thiết.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, số lượng chất ma túy tàng trữ không lớn và không nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Số ma túy (vật chứng còn lại sau giám định) thu được của L và Q là vật Nhà nước cấm L hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 chiếc điện thoại thu được của L và Q, xét thấy hai chiếc điện thoại này L và Q đã dùng liên lạc đi mua ma túy, nên cần tịch thu xung quỹ nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA BKS 36B-901.88 thu của L, L sử dụng chở Q đi mua ma tuý, chiếc xe do bị cáo đứng tên đăng ký, nhưng đây là tài sản chung của cả gia đình. Hiện nay L và chị D là vợ bị cáo đề nghị xin lại chiếc xe này. Xét thấy chiếc xe là phương tiện đi lại của gia đình, nhưng do nghiện ma túy nên dùng đi mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời và xe là tài sản chung của gia đình nên cần trả lại cho bị cáo.

. Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được người này, nên không có căn cứ để xử lý.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam: 24/8/2021.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ số Methamphetamine còn lại sau giám định có trong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động, bao gồm 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu bạc, không có nắp sau lưng, màn hình vỡ, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra được số IMEI, đã qua sử dụng và 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen có số IMEI 1: 356613725796866; IMEI 2: 356613727796864 và gắn 02 sim đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L chiếc xe mô tô BKS 36B4-901.88, nhãn hiệu YAMAHA-SIRIUS, màu sơn trắng xanh, số khung C6HOFY186841, số máy 5C6KH186847.

(Tất cả hiện đang được L giữ tại Chi cục thi hành án huyện Triệu Sơn theo biên bản giao nhận ngày 08/02/2022).

- Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ