vanban.org

Bản án 09/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 01/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Tòng Văn D 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-ST
Ngày: 01-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Viễn.

2. Ông Lò Văn Thôn.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Lầu Bá Khải – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2022, tại Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 10/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST-HS ngày 17/10/2022, đối với bị cáo:

Tòng Văn D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 14/11/2003; nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tòng Văn H và con bà: Tòng Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự : Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan: Ông Tòng Văn H, sinh năm 1975 (bố bị cáo). Trú tại: Bản N, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 00 ngày 12/8/2022, tổ công tác Công an huyện Sông Mã làm nhiệm v phòng chống ma túy tại khu vực Bản N, xã C, huyện Sông Mã phát hiện 01 nam thanh niên đang dừng xe mô tô bên cạnh đường Quốc lộ 4G có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành làm việc thì đối tượng khai nhận là Tòng Văn D, sinh năm 2003; trú tại bản N, xã C, Sông Mã. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện tại lòng bàn tay trái của D có 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 06 viên nén hình tròn màu H, D khai nhận là H phiến. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định, ngoài ra còn tạm giữ của D 01 (một) chiếc xe Môtô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn xanh đen bạc, số máy JA39E2442787, số khung RLHJA3923MY417580, biển kiểm soát 26C1 - 270.19 xe đã qua sử d ng.

Ngày 13/8/2022 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã tiến hành lập Hội đồng bóc m niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng. Kết quả cân tịnh:

Cân tách bì 06 viên nén hình tròn màu H trong gói nilon màu xanh thu giữ của Tòng Văn D có tổng khối lượng là 0,53 gam. Trích 02 viên có khối lượng 0,17 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D. Vật chứng còn lại 04 viên có khối lượng 0,36 gam ký hiệu L được cho vào túi nilon màu trắng làm vật chứng lưu kho.

Kết luận giám định số: 1377/KL-KTHS ngày 15/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,17 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,53 gam; Loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Tòng Văn D sử d ng ma túy từ năm 2019, để có ma túy sử d ng, khoảng 16 giờ ngày 12/8/2022, D mang theo số tiền 100.000vnđ (Một trăm ngàn đồng) một mình điều khiển chiếc xe mô tô Biển kiểm soát: 26C1- 270.19 của gia đình đi từ nhà bản N, xã C, Sông Mã đến bản B, xã M, Sông Mã để tìm mua ma túy sử d ng cho bản thân. Khi đến bản B, D gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ đang đứng ven đường nên đã dừng xe đi đến gần người đàn ông này và hỏi mua được 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 06 viên H phiến với giá 100.000vnđ. Mua được ma túy D cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà, còn người đàn ông dân tộc Mông đi đâu không rõ. Khi D đang trên đường về đến khu vực bản N, xã C, Sông Mã thì bị gặp tổ công tác Công an huyện Sông Mã làm nhiệm v phát hiện bắt quả tang, thu giữ số ma túy và tạm giữ phương tiện liên quan.

Cáo trạng số: 144/CT-VKSSM ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Tòng Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 22 đến 26 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan không có ý kiến tranh luận, đều có đề nghị xin lại chiếc xe mô tô. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

- Hồi 17 giờ 00 phút ngày 12/8/2022, Tòng Văn D bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ được trong lòng bàn tay trái của D 01 gói Nilon màu xanh, bên trong chứa 06 nén hình tròn màu H, theo kết luận giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,53gam, m c đích Tàng trữ để sử d ng cá nhân.

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới.

Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận: Bị cáo Tòng Văn D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

5] Về vấn đề khác liên quan:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại địa phận bản B, xã M, Sông Mã. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể người này nên Cơ quan điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn xanh đen bạc số máy JA39E2442787, số khung RLHJA3923MY417580, biển kiểm soát 26C1 - 270.19. Quá trình điều tra xác định là tài sản chung của gia đình bị cáo mua từ tháng 02 năm 2022 với giá 20.500.000vnđ (Hai mươi triệu, năm trăm ngàn đồng, khi mua xe thì gia đình đăng ký mang tên Tòng Văn D. Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ s dữ liệu xe máy vật chứng. Tại phiên toà, ông Tòng Văn H có ý kiến: Chiếc xe mô tô là tài sản chung duy nhất của gia đình, khi bị cáo sử d ng xe đi phạm tội thì gia đình không biết và không liên quan. Nay đề nghị xin lại tài sản là chiếc xe mô tô để ph c v sinh hoạt gia đình. Do vậy, cần xem xét trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Tòng Văn H.

6] Vật chứng của v án còn lại: 01 túi nilon màu trắng chứa vật chứng là 0,36 gam H phiến, 01 mảnh giấy nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m là vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.

7] Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và án phí.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Tòng Văn D 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/8/2022.

Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành, đã miên phong kín, bên trong chứa: 01 túi nilon màu trắng chứa vật chứng lưu kho ký hiệu L = 0,36 gam H phiến, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m .

- Trả lại cho ông Tòng Văn H: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu xanh đen bạc; BKS: 26C1-270.19; số máy: JA39E2442787, số khung: RLHJA3923MY417580; xe không có gương chiếu hậu; không có chìa khoá, phần vỏ xe bị xước nhiều chỗ; không kiểm tra máy móc bên trong, xe đã qua sử d ng và cũ.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 136 ngày 11/10/2022 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo

Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 01/11/2022.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ