vanban.org

Bản án 09/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 22/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Phi H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phi H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-ST
Ngày: 22/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọ và ông Phạm Hữu Ái;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Hàm Tân;

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa:

Ông Lê Phi Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2022/TLST-HS ngày

12/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HS ngày

08/02/2022, đối với bị cáo:

TRẦN PHI H, (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1995 tại Bình Thuận;

HKTT: Thôn T, xã S, huyện H1, tỉnh B;

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Trần Văn Th và bà Nguyễn Thị Th1;

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út;

Vợ: Sống chung không đăng ký kết hôn với Phạm Thị Mỹ K, hiện bà K đã

chết. Có 01 con sinh năm 2013.

Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Nhân thân: Ngày 04/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam

xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày

04/9/2014 tại bản án hình sự sơ thẩm số 53/2014/HSST ngày 04/9/2014. Đã chấp

hành xong thời gian thử thách và nộp án phí.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang

tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 11/7/2021, Trần Phi H dùng điện thoại di động hiệu

Nokia có số thuê bao 0962304201 điện thoại cho một đối tượng tên T1 (Không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1.000.000đ ma túy đá thì T1 đồng ý hẹn ra cây xăng Hàm Tân thuộc khu phố 2, Tân Nghĩa, Hàm Tân để giao, nhận ma túy. H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86H3-6180 đến điểm hẹn thì T1 đến nơi. H đưa cho T1 một găng tay vải, T1 lấy 02 gói ma túy bỏ vào găng tay rồi vứt xuống đất, H nhặt găng tay lên để ở lỗ hổng mặt đồng hồ báo km phía trước xe. H nói với T1 cho nợ tiền rồi điều khiển xe mô tô chạy đi. Lúc 03 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến ngã ba đường đất đỏ liên thôn khu vực Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện thuộc thôn An Bình, Sông Phan thì gặp tổ công tác của Công an huyện Hàm Tân phối hợp cùng Công an xã Sông Phan tuần tra trên địa bàn, thấy Trần Phi H điều khiển xe mô tô BKS 86H3 – 6180 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trong găng tay để trên đầu xe có 02 gói nylon được hàn kín hai đầu, 01 gói có kích thước (05×02) cm, 01 gói có kích thước (03×01)cm, bên trong hai gói nylon chứa chất dạng tinh thể màu trắng. Trần Phi H khai nhận đây là ma túy đá mua về để sử dụng nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H.

Tại Kết luận giám định số 910/KLGĐ-PC09 ngày 16/7/2021 của Phòng Kỹ

thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận xác định:

- Phong bì có 01 gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu

trắng ký hiệu là M: Có khối lượng là 0,6371gam, là Methamphetamine.

Vật chứng vụ án thu giữ gồm có:

- 0,6371gam Methamphetamine, hiện còn 0,6019 gam (Do lấy mẫu giám

định) cùng 02 gói nylon đã cắt lấy mẫu.

- 01 găng tay vải màu đen sọc trắng bên ngoài có ghi dòng chữ POWER;

01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen kèm sim số 0962304201.

- 01 xe mô tô BKS 86H3-6180.

Với nội dung như trên, Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 10/01/2022 của

VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Trần Phi H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như

cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKSND huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Hàm Tân giữ quyền công tố luận tội

và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Phi H từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 0,6019 gam

Methamphetamine cùng 02 gói nylon đã cắt lấy mẫu; 01 găng tay vải màu đen sọc trắng bên ngoài có ghi dòng chữ POWER; Giao trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen kèm sim số 0962304201 cho bị cáo.

* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung và tội danh mà Cáo trạng

của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố, đồng thời xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt

cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố,

xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm

Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong

quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy

định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không

có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,

Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình,

phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra

vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 03 giờ ngày 11/7/2021 Trần Phi H dùng điện thoại liên hệ với một

đối tượng tên T1 hỏi mua 1.000.000đ ma túy đá. T1 đồng ý và hẹn H ra cây xăng

Hàm Tân thuộc khu phố 2, Tân Nghĩa để giao nhận ma túy. H điều khiển xe mô tô

BKS 86H3 – 6180 đến điểm hẹn và đưa cho T1 một găng tay vải, T1 lấy 02 gói ma

túy bỏ vào găng tay rồi vứt xuống đất. H nhặt găng tay lên để ở lỗ hổng mặt đồng

hồ báo km trước xe rồi điều khiển xe mô tô chạy đi, khi đến ngã ba đường đất đỏ

liên thôn khu vực Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện thì bị kiểm tra và lập biên

bản bắt quả tang.

Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo; biên bản hỏi cung; lời khai của bị

cáo tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo đúng như cáo trạng đã nêu.

Tại Kết luận giám định số 910/KLGĐ-PC09 ngày 16/7/2021 của Phòng Kỹ

thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận xác định:

- Phong bì có 02 gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu

trắng ký hiệu là M: Có khối lượng là 0,6371gam, là Methamphetamine.

Bị cáo H tàng trữ trái phép 0,6371gam Methamphetamine để sử dụng,

không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành

vi của bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là chế độ quản lý của

Nhà nước về chất Ma túy.

Bị cáo H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được

hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép

chất Ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị

cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là

hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ điều này, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo Hải đã bất chấp hậu quả, bất chấp pháp luật, tàng trữ ma túy để sử dụng. Bản thân bị cáo Hải có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù cho hưởng án treo, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải dành cho bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo cũng như thông qua đó phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, cũng như rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại

phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H, hiện không xác định được nhân

thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với 0,6019 Methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng

trữ, cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 02 gói nylon đã cắt lấy mẫu; 01 găng tay vải màu đen sọc trắng

bên ngoài có ghi dòng chữ POWER, đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô BKS 86H3 – 6180, đây là xe do Nguyễn Phi V, anh trai

của bị cáo mua lại của người khác. Nguyễn Phi V không biết việc H dùng xe mô tô để mua ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã giao trả lại cho Nguyễn Phi V là phù hợp.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen kèm sim số

0962304201, đây là những vật không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nên cần phải giao trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình

sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Phi H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù

được tính từ ngày bị cáo thi hành án.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,6019 Methamphetamine cùng 02 gói nylon đã

cắt lấy mẫu. Tất cả được niêm phong trong phong bì số 910 có chữ ký của Giám

định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình

sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 găng tay vải màu đen sọc trắng bên ngoài có ghi

dòng chữ POWER.

Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen kèm sim

số 0962304201.

Tất cả Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm

Tân quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2022 giữa Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Tân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện

Hàm Tân.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án.

Bị cáo Trần Phi H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc

bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án

dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi

hành án dân sự.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ