- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HS-ST Ngày 27 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Thanh Chiều.
Ông Đặng Duy Tân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Chánh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Liệt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2022/HSST-QĐ ngày 16 tháng 3 năm 2022, Thông báo về việc dời phiên tòa hình sự sơ thẩm số: 109/TB-TA ngày 13 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Ngọc H, sinh năm 1984, tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L, sinh năm 1964 và bà Võ Thị L, sinh năm 1965; Chung sống như vợ chồng với Lê Thị Ng, sinh năm 1989; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án: Không; Tiền sự: có 04 tiền sự, vào ngày 24-5-2019 bị Trưởng Công an xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt; vào ngày 15-10-2019 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 (hai mươi bốn) tháng, chấp hành đến ngày 23-11-2020 được Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng quyết định miễn chấp hành phần thời gian còn lại; vào ngày 03-6-2021 bị Trưởng Công an xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt; vào ngày 17-6-2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 (ba) tháng, từ ngày 17-6-2021 đến ngày 17-9-2021 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Về nhân thân: Có nhân thân xấu, vào ngày 29-7-2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng quyết định áp dung biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 (ba) tháng, từ ngày 29-7-2019 đến ngày 29-10-2019 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong, đã được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 28-7-2021, chuyển tạm giam từ ngày 31-7-2021 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người làm chứng:
1. Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
2. Anh Thái B, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
3. Anh Võ Thành Qu, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
4. Chị Nguyễn Thị A (tên gọi khác: Ngân), sinh năm 1992. Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 28-7-2021, bị cáo H uống rượu cùng với anh Nguyễn Tuấn D, anh Võ Thành Qu, chị Nguyễn Thị A tại nhà thuộc ấp Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng đến khoảng 15 giờ 00 phút thì nghỉ. Lúc này bị cáo H có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên mượn điện thoại di động nhãn hiệu ViVo của anh Qui liên lạc với anh Thái B được anh Thái B giới thiệu người bán ma túy. Người bán ma túy điện thoại cho bị cáo H hẹn địa điểm giao ma túy. Bị cáo H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83F1-3030 mượn của anh Qui đến điểm hẹn (ngay Chốt kiểm soát dịch bệnh Covicd 19) thuộc ấp Tân Hòa B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo H đưa cho người thanh niên số tiền 400.000 đồng, người thanh niên ném cho bị cáo H gói thuốc lá hiệu Hero bên trong có gói nylon màu trắng quấn băng keo màu đen bên trong là ma túy đá. Lúc này khoảng 17 giờ cùng ngày, bị cáo H điều khiển xe trên đường về nhà bị Công an huyện Mỹ Tú kết hợp với Công an xã Long Hưng kiểm tra, phát hiện gói nylon màu trắng quấn băng keo màu đen ở baga trước xe. Bị cáo H khai bên trong gói nylon màu trắng quấn băng keo màu đen là ma túy đá mua với số tiền 400.000 đồng nên bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng có liên quan.
- Tại Kết luật giám định số: 126/GĐMT-PC09 ngày 30-7-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1037gam, loại Methamphetamine.”.
- Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Sóc Trăng tạm giữ: 01 (một) Bịch nylon được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (sau khi giám định còn lại 0,0926gam, đã niêm phong); 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu VIV0 V2027 màu xanh; 01 (một) Xe mô tô biển kiểm soát 83F1- 3030, màu đỏ; 01 (một) Giấy chứng nhận xe mô tô biển kiểm soát 83F1- 3030, họ tên người đăng ký Ngô Văn Nô; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số 365851560, họ tên Nguyễn Văn Đ.
Tại giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định xử lý vật chứng, giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Sóc Trăng tiếp tục quản lý đối với 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu VIV0 V2027 màu xanh; 01 (một) Xe mô tô biển kiểm soát 83F1- 3030, màu đỏ; 01 (một) Giấy chứng nhận xe mô tô biển kiểm soát 83F1- 3030, họ tên người đăng ký Ngô Văn Nô; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số 365851560, họ tên Nguyễn Văn Đ để đảm bảo phục vụ công tác điều tra, xác minh vụ án khác. Vật chứng còn lại đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Tại Cáo trạng số: 03/CT-VKS-MT ngày 20-12-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo H tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo H tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H, đề nghị: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo H từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H; tịch thu tiêu hủy 01 (một) Bịch nylon được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (sau khi giám định còn lại 0,0926gam, đã niêm phong).
Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Phát biểu tranh luận, bị cáo H thống nhất luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không trình bày tự bào chữa. Lời nói sau cùng bị cáo H xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Tú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Tú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng anh Thái B, anh Võ Thành Qu, chị Nguyễn Thị A vắng mặt không có lý do. Bị cáo H yêu cầu tiếp tục xét xử. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, những người làm chứng này đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng hành vi phạm tội, không oan sai. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của những người làm chứng; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:
Vào khoảng 17 giờ, ngày 28-7-2021, tại ấp Tân Hòa B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng bị cáo H có hành vi tàng trữ trái phép gói nylon màu trắng quấn bằng keo màu đen tại baga trước xe bị lực lượng Công an huyện Mỹ Tú kết hợp với Công an xã Long Hưng phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Khi bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang bị cáo H khai nhận gói nylon màu trắng quấn bằng keo màu đen bên trong là ma túy đá bị cáo mua của người thanh niên số tiền 400.000 đồng.
Tại Kết luật giám định số: 126/GĐMT-PC09 ngày 30-7-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1037 gam, loại Methamphetamine.”.
Bị cáo H là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chấp ma túy là vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì muốn có ma túy sử dụng mà bị cáo đã mua gói ma túy số tiền 400.000 đồng, tàng trữ gói ma túy trên baga trước xe, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất mà để sử dụng, qua giám định gói ma túy bị cáo tàng trữ là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1073gam.
Methamphetamine là một trong các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền quy định tại STT 323, Danh mục II ban hành kèm theo Nghị định số: 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
Đối chiếu với quy định viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, Cáo trạng số: 03/CT-VKS-MT ngày 20-12-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo H tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo H là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm gia tăng tệ nạn về ma túy, gây mất an ninh, trật tự, an toàn, xã hội nên cần phải xử lý thật nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để bị cáo có thời gian cải tạo, lao động, học tập trở thành công dân biết tôn trọng, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét toàn diện về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H như sau: Bị cáo có nhân thân xấu, chưa có tiền án, có 04 tiền sự và 01 tiền sự đã được xem là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt bổ sung, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đối với 01 (một) Bịch nylon được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (sau khi giám định còn lại 0,0926gam, đã niêm phong) là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Các vật chứng còn lại tại giai đoạn truy tố Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo H, bị cáo H không quen biết, không rõ nhân thân, lý lịch người này. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm anh Đỗ Văn H không thừa nhận có bán ma túy cho bị cáo H vào ngày 28-7-2021 nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh Hải. Đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tiếp tục xác minh, làm rõ nhân thân, lý lịch người thanh niên này để xử lý theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H là có căn cứ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo H mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, thể hiện hiện nguyên tắc khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Điểm a Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tuyên xử:
1. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (tức ngày 28-7-2021).
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Ngọc H.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) Bịch nylon được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (sau khi giám định còn lại 0,0926gam, đã niêm phong).
4. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Trần Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Mỹ Tú; - CQĐT Công an huyện Mỹ Tú; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |