vanban.org

Bản án 09/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 29/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1, xem xét lại phần quyết đ nh về hình phạt đối với b cáo Phạm Văn Vi t, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 105/…

Tuyên bố các b cáo ê Văn Đ, Hoàng Văn Đ1 và Phạm Văn V phạm tội “Vi phạm quy đ nh về bảo v động vật nguy cấp, quý, hiếm”. ( r ờng h p ng ời Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đ - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? p dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1, xem xét lại phần quyết đ nh về hình phạt đối với b cáo Phạm Văn Vi t, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 105/…
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-PT
Ngày 29 tháng 3 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành ph n Hội đồng t ử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Bình

Các Thẩm phán: Ông Nguy n Vĩnh Thành và bà ê Th B ch Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n ê Hoàng - Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Th Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 150/2021/TLPT-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 đối với vụ án ê Văn Đ c ng đ ng phạm, do có kháng cáo của các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 105/2021/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huy n B.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Văn Đ, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1968 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu th ờng trú và chỗ ở: Thôn Đ2, xã M, huy n T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghi p: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Sán dìu; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Vi t Nam; con ông ê Văn C và bà Phó Th ; vợ là u Th V1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; b cáo b bắt tạm giữ từ ngày 02/12/2020 đến ngày 05/12/2020 đ ợc tại ngoại (có mặt).

2. Hoàng Văn Đ1, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1965 tại H ng Yên; nơi đăng ký hộ khẩu th ờng trú và chỗ ở: Thôn A, xã T1, huy n T2, thành phố Hà Nội; nghề nghi p: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Vi t Nam; con ông Hoàng Văn T3 và bà Nguy n Th H (còn có tên gọi khác là L1 hoặc N); vợ là Ngô Th T4 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2009/HSST ngày 24/9/2009, Tòa án nhân dân huy n T2, thành phố Hà Nội xử phạt Hoàng Văn Đ1 24 tháng tù cho h ởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Vi phạm các quy đ nh về bảo v động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đ ợc u tiên bảo v ”, b cáo đã chấp hành xong thời gian thử thách án treo ngày 31/5/2013, thực hi n xong nghĩa vụ án ph ngày 13/7/2009 (đã đ ợc xóa án t ch); b cáo tại ngoại (có mặt).

Bị cáo kh ng có kháng cáo, kh ng ị kháng cáo kháng nghị c

án tri u t p:

Phạm Văn V, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1983 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu th ờng trú và chỗ ở: Thôn A, xã T1, huy n T2, thành phố Hà Nội; nghề nghi p: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Vi t Nam; con ông Phạm Văn T5 và bà Ngô Th T6; vợ là Nguy n Th H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; b cáo tại ngoại (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong h sơ vụ án và di n biến tại phiên toà thì nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1 th ờng xuyên buôn bán th t thú rừng với nhau. Đ biết gia đình Đ1 đ ợc phép nuôi h ơu sao nên khoảng 7 giờ 30 phút ngày 29/11/2020, Đ gọi đi n cho Đ1 hỏi mua th t h ơu sao của Đ1. Do Đ đang có sẵn 01 cá thể Sơn d ơng nên Đ hỏi Đ1 có mua Sơn d ơng không, nếu mua thì mang H ơu sao lên bán đổi cho Đ cùng giá 245.000đ/1kg. Do th ờng xuyên buôn bán th t thú rừng nên Đ1 biết rõ Sơn d ơng là động vật nguy cấp, quý, hiếm và Nhà n ớc cấm mua bán, nh ng do tr ớc đó có 01 ng ời nam giới (Đ1 chỉ biết tên là L2) gọi đi n thoại cho Đ1 hỏi mua Sơn d ơng của Đ1 nên Đ1 đ ng ý mua cá thể Sơn d ơng của Đ để bán cho ng ời nam giới tên L2. Đ1 nói với Đ là sẽ cho ng ời mang H ơu sao đến nhà Đ để bán đổi lấy Sơn d ơng và sẽ thanh toán tiền sau. Sau đó, Đ1 gọi đi n cho Phạm Văn V, sinh năm 1983, là ng ời quen biết và ở c ng thôn với Đ1, thuê V chở 02 con H ơu sao đã đ ợc giết mổ, cấp đông có tổng trọng l ợng là 27,5kg đi giao cho ê Văn Đ, r i chở Sơn d ơng cho Đ1. Do th ờng xuyên chở thuê th t thú rừng cho Đ1 nên V cũng biết Sơn d ơng là động vật nguy cấp, quý, hiếm, Nhà n ớc cấm mua bán, vận chuyển nh ng V vẫn đ ng ý và một mình điều khiển xe mô tô BKS: 29U8 - 3253 của Đ1 giao cho để chở 02 cá thể H ơu sao đi giao cho Đ. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, V chở H ơu sao đến nhà ở của Đ ở thôn Đ2, xã M giao cho Đ 02 con H ơu sao đã đ ợc mổ th t, sau đó Đ gọi đi n báo lại cho Đ1 về vi c đã nhận H ơu sao thì Đ1 gọi đi n thoại lại cho V bảo “Chú kiểm tr con Sơn d ơng nhà Đ bao nhiêu cân rồi áo lại cho nh” thì V đ ng ý. Đ và V mở 01 th ng xốp để tại sân ở nhà Đ lấy ra 01 cá thể Sơn d ơng đã b cắt rời làm hai phần riêng bi t, g m: Phần đầu d nh liền thân tr ớc và hai chân tr ớc; phần thân sau g m cả hai chân sau (không có nội tạng), cân đ ợc 44kg. Sau khi cân xong, Đ c ng với V lại cho cá thể Sơn d ơng vào th ng xốp và ớp đá đông lạnh, r i Đ lấy 01 tờ l ch ghi vào mặt sau của tờ l ch nội dung: “Ngày 29/11 Đ Dê 44kg; Đ1 H ơu 27 5kg; nh Đ1 n 16 5kg Dê; 16 5 x 245 = 4.040.000; Đ1 n (ch th nh toán)” r i đ a cho V mang về cho Đ1, mục đ ch Đ viết số l ợng kilogam của Sơn d ơng thành Dê là để tránh b phát hi n vì Sơn d ơng là động vật nguy cấp, quý, hiếm Nhà n ớc cấm mua bán, vận chuyển. Sau đó, V lại gọi đi n thoại cho Đ1 báo lại trọng l ợng cá thể Sơn d ơng là 44kg thì Đ1 bảo V chở cá thể Sơn d ơng mua của Đ đi đến khu vực Trạm thu ph thuộc xã Q, huy n B để bán cho ng ời nam giới tên L2 với giá 280.000đ/1kg và lấy tiền về cho Đ1. V điều khiển xe mô tô BKS: 29U8 - 3253 chở cá thể Sơn D ơng đi đến khu vực Trạm thu ph thuộc xã Q, huy n B để giao bán. Đến khoảng 14 giờ 00 phút c ng ngày, khi V đang đứng ở ven đ ờng Quốc lộ 2A gần Trạm thu ph thuộc đ a phận xã Q, huy n B để đợi giao cá thể Sơn d ơng cho ng ời nam giới tên L2 thì b Tổ công tác Công an tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, bắt giữ.

Tang vật thu giữ g m: 01 th ng xốp màu trắng, có k ch th ớc (60 x 42 x 45cm), bên trong th ng xốp chứa bộ phận cá thể Sơn d ơng đ ợc ớp với đá lạnh, cá thể này đ ợc cắt thành hai phần g m phần đầu có cặp sừng liền thân tr ớc và hai chân tr ớc, phần thân sau liền hai chân sau, không có nội tạng, hai phần bộ phận cá thể Sơn d ơng có lông đen, vàng, bốn chân còn móng guốc, tổng khối l ợng của hai phần cá thể Sơn d ơng này là 44kg; 01 chiếc xe mô tô nhãn hi u Honda Dream BKS: 29U8 - 3253; 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung màu vàng, đã cũ; 01 đi n thoại di động Samsung Galaxy Grand Erime màu nâu có số IMEI: 354204072069909 của Phạm Văn V; 01 v giả da màu nâu, bên trong có một căn c ớc công dân số 001083017753 do Bộ Công an cấp ngày 15/6/2016 và giấy phép lái xe số AC633405 do Sở GTVT Hà Nội cấp ngày 21/5/2007 c ng mang tên Phạm Văn V; 01 đăng ký xe mô tô số 0016686 cấp năm 2006 đối với xe mô tô BKS: 29U8 - 3253 mang tên Phạm Văn Q1; 01 tờ l ch, mặt sau có viết chữ bằng tay mực màu xanh có nội dung “Ngày 29/11 Đ Dê 44kg; Đ1 H ơu 27 5kg; nh Đ1 n 16 5kg Dê; 16 5 x 245 = 4.040.000; Đ1 n (ch th nh toán)”.

Ngày 02/12/2020, ê Văn Đ đến Công an huy n B đầu thú, đ ng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguy n giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung Galaxy A2ls màu xanh t m than, số IMEI: 351662611004807. C ng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của ê Văn Đ ở thôn Đ2, xã M, huy n T, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả khám xét đã thu giữ: 01 con dao loại dao rựa bằng kim loại, chiều dài 46cm trong đó chiều dài chuôi dao là 16cm, chiều dài l ỡi dao dài 30cm, bản rộng 5,5cm thu giữ tại phòng bếp ăn của ê Văn Đ; 01 cân đ ng h lò xo Nhơn Hòa loại 150kg màu xanh, thu giữ tại dãy nhà ngang của ê Văn Đ. Ngoài ra, quá trình điều tra còn thu giữ 01 đi n thoại di động nhãn hi u Nokia màu đen, có số IMEI1: 352876104037442, số IMEI2: 352876105037441 của Hoàng Văn Đ1.

Tại Kết luận giám đ nh số: 869 ngày 30/11/2020, Vi n Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Vi n Hàn lâm Khoa học và Công ngh Vi t Nam, xác đ nh:

Cá thể ộng v t ã ị cắt rời làm h i phần riêng i t gồm: Phần ầu dính liền thân tr ớc và h i chân tr ớc; phần s u gồm cả h i chân là loài Sơn d ơng có tên kho học: Capricornis milneedwardsii (Naemorhedus milneedwardsii)...có tên trong Phụ lục I D nh mục loài nguy cấp quý hiếm

c u tiên ảo v (B n hành kèm theo Nghị ịnh 64/2019/NĐ - CP ngày 16/07/2019 củ Chính Phủ) và ồng thời có tên trong Nhóm IB D nh mục thực v t rừng ộng v t rừng nguy cấp quý hiếm (B n hành kèm theo Nghị ịnh 06/2019/NĐ - CP, ngày 22/01/2019 củ Chính phủ)... và có tên trong Phụ lục I D nh mục các loài ộng v t thực v t ho ng dã thuộc Phụ lục C ng ớc về u n án quốc tế các loài ộng v t thực v t ho ng dã nguy cấp (CI ES) (B n hành kèm theo h ng áo số 296/ B - CTVN - H Q ngày 27/11/2019 củ Cơ qu n Quản lý CI ES Vi t N m Bộ N ng nghi p và Phát triển N ng th n).

Ngày 20/01/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có kết luận giám đ nh số 215/K GĐ về đối t ợng giám đ nh: Chữ viết ở mặt sau tờ l ch có nội dung bắt đầu là: “Ngày 29/11 Đ Dê 4.4kg” kết thúc: “Đ1 n (ch th nh toán)” trên tờ mẫu cần giám đ nh (ký hi u A) so với chữ viết của ê Văn Đ trên các mẫu so sánh (ký hi u M1, M2, M3) là do c ng một ng ời viết ra.

Về ngu n gốc cá thể Sơn d ơng đã thu giữ, ê Văn Đ khai nhận: Vào sáng ngày 29/11/2020, Đ mua của Hạ Văn T7, sinh năm 1992, HKTT: Thôn 2, xã V1, huy n V2, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi đến nhà T7, Đ gọi đi n thoại cho T7 thì Tr ờng không có nhà, T7 đã gọi đi n thoại cho bà Phạm Th T8 (mẹ của T7) cân Sơn D ơng cho Đ. Cơ quan điều tra đã nhiều lần tri u tập T7 và bà T8 đến Cơ quan điều tra để làm rõ nh ng bà T8 không nhận giấy tri u tập và không ký vào biên bản mặc d đã đ ợc Cơ quan điều tra thuyết phục, giải th ch về quyền và nghĩa vụ của bà Thu nh ng không thu đ ợc kết quả; riêng T7 không có mặt ở đ a ph ơng, gia đình và ch nh quyền đ a ph ơng không biết T7 hi n đang ở đâu, Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm đối t ợng Hạ Văn T7 nh ng đến nay vẫn không xác đ nh đ ợc T7 ở đâu nên ch a làm rõ đ ợc ngu n gốc cá thể Sơn d ơng và vai trò của Hạ Văn T7 và bà Phạm Th T8. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n B đã có văn bản và chuyển tài li u tin báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n V2 để thụ lý điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn Đ1 khai nhận: L2 là ng ời gọi đi n thoại đặt mua cá thể Sơn d ơng của Đ1 nh ng Đ1 không biết tên tuổi, đ a chỉ cụ thể của đối t ợng này, tr ớc đó Đ1 ch a mua bán trao đổi th t thú rừng với đối t ợng L2 lần nào, Cơ quan điều tra đã ra l nh thu giữ th t n, đi n t n đối với số đi n thoại mà đối t ợng L2 đã liên lạc với b cáo Đ1 nh ng đến nay vẫn không có căn cứ xác đ nh danh t nh của ng ời này.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 105/2021/HSST ngày 30/9/2021, Toà án nhân dân huy n B đã quyết đ nh: Tuyên bố các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1 phạm tội “Vi phạm quy đ nh về bảo v động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt b cáo ê Văn Đ 02 năm 03 tháng t . Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt b cáo Hoàng Văn Đ1 01 năm 09 tháng t . Ngoài ra, còn xử phạt b cáo Phạm Văn V 01 năm 06 tháng t cho h ởng án treo; phạt bổ sung, xử lý vật chứng, t nh án ph và tuyên quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Trong các ngày từ 06 đến 09 tháng 10 năm 2021, các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đ ợc h ởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận nh đã khai tại Cơ quan điều tra, xin Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho h ởng án treo.

Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề ngh Hội đ ng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo h ớng giảm nhẹ một phần hình phạt cho các b cáo có kháng cáo và không có kháng cáo, kháng ngh , cụ thể: Giảm nhẹ cho b cáo Đ từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; giảm nhẹ cho b cáo Đ1 từ 06 đến 09 tháng t ; giảm nhẹ cho b cáo V từ 03 đến 06 tháng t cho h ởng án treo; các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không đề ngh Hội đ ng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u có trong h sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên toà, Hội đ ng xét xử nhận đ nh nh sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1 làm trong thời hạn luật đ nh, đơn hợp l nên đ ợc Hội đ ng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Đối với b cáo Phạm Văn V, mặc d không có kháng cáo, không b kháng cáo, kháng ngh nh ng Hội đ ng xét xử xét thấy cần thiết xem xét lại phần quyết đ nh về hình phạt của bản án để đảm bảo sự công bằng, bình đ ng trong vụ án có đ ng phạm.

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, b cáo và ng ời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên toà, các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. ời khai nhận tội của các b cáo tại Cơ quan điều tra cũng nh tại phiên tòa là ph hợp với nhau, ph hợp với lời khai của b cáo Phạm Văn Vi t và lời khai của ng ời làm chứng trong vụ án, c ng các tang vật đã thu giữ, các tài li u chứng cứ khác đ ợc thu thập khách quan đúng pháp luật có trong h sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Thông qua vi c liên lạc đi n thoại, trong khoảng thời gian từ 07 giờ 30 phút đến 12 giờ 30 phút ngày 29/11/2020, các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1 đã có hành vi thỏa thuận mua bán với nhau 01 cá thể Sơn d ơng có trọng l ợng 44kg, thuộc loài động vật nguy cấp, quý, hiếm đ ợc u tiên bảo v . Khoảng 14 giờ ngày 29/11/2020, tại khu vực Trạm thu phí thuộc xã Q, huy n B, tỉnh Vĩnh Phúc, Đ1 chỉ đạo Phạm Văn V giao bán lại cá thể Sơn d ơng cho ng ời có tên là L2 (không xác đ nh đ ợc danh tính) thì b Tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về môi tr ờng - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra phát hi n, bắt quả tang. Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các b cáo ê Văn Đ, Hoàng Văn Đ1 và Phạm Văn V về tội “Vi phạm quy đ nh về bảo v động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho h ởng án treo của các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1, Hội đ ng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy đ nh về bảo v động vật hoang dã đ ợc pháp luật bảo v . Trong vụ án này b cáo Đ là ng ời khởi x ớng; còn b cáo Đ1 là ng ời có nhân thân xấu, tr ớc đó đã b kết án về hành vi c ng loại tội mặc d đã đ ợc xóa án t ch. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc t nh chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự và nhân thân của ng ời phạm tội để buộc các b cáo phải chấp hành hình phạt t là có căn cứ, đúng pháp luật. Yêu cầu kháng cáo xin h ởng án treo của các b cáo không đ ợc Hội đ ng xét xử chấp nhận.

Tuy nhiên, số l ợng phạm tội chỉ là 01 cá thể Sơn d ơng, khung hình phạt mà điều luật quy đ nh từ 01 đến 05 năm, tr ớc khi phạm tội b cáo Đ là ng ời có nhân thân tốt, ngay sau khi phạm tội đã tự nguy n ra đầu thú, đây là lần đầu tiên b đ a ra xét xử và b cáo là ng ời dân tộc Sán dìu. Ngoài ra, b cáo có bố đ là cụ Lê Văn C là ng ời có thành t ch xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm l ợc đ ợc tặng th ởng Bằng khen và Huy ch ơng kháng chiến. Còn b cáo Đ1 mặc d đã b kết án về hành vi c ng loại tội nh ng đã đ ợc xóa án t ch, b cáo Đ1 có mẹ đ là cụ Nguy n Th H (còn có tên gọi khác là Nguy n Th 1) là ng ời có thành t ch xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm l ợc đ ợc tặng th ởng Bằng khen. Các b cáo đ ợc h ởng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không b áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Do đó, mức hình phạt 02 năm 03 tháng t đối với b cáo Đ; 01 năm 09 tháng t đối với b cáo Đ1; 01 năm 06 tháng t cho h ởng án treo đối với b cáo Vi t là có phần nghiêm khắc, cần chấp nhận đề ngh của đại di n Vi n kiểm sát tại phiên tòa để giảm nhẹ cho các b cáo một phần hình phạt. Đây là cơ hội để các b cáo yên tâm cải tạo và phấn đấu sửa chữa lỗi lầm. Nh vậy, yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các b cáo Đ và Đ1 đ ợc Hội đ ng xét xử chấp nhận; đề ngh giảm nhẹ hình phạt cho b cáo Vi t của đại di n Vi n kiểm sát đ ợc Hội đ ng xét xử chấp nhận.

Các quyết đ nh khác của Bản án sơ thẩm đã có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Về án ph : Yêu cầu kháng cáo của các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1 đ ợc chấp nhận một phần nên các b cáo không phải ch u án ph hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

p dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của các b cáo ê Văn Đ và Hoàng Văn Đ1, xem xét lại phần quyết đ nh về hình phạt đối với b cáo Phạm Văn Vi t, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 105/2021/HSST ngày 30/9/2021 của Toà án nhân dân huy n B.

Tuyên bố các b cáo ê Văn Đ, Hoàng Văn Đ1 và Phạm Văn V phạm tội “Vi phạm quy đ nh về bảo v động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt b cáo ê Văn Đ 01 (một) năm t ; thời hạn chấp hành hình phạt t t nh từ ngày bắt b cáo đi thi hành án, đ ợc trừ đi thời gian đã b tạm giữ từ ngày 02/12/2020 đến ngày 05/12/2020.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt b cáo Hoàng Văn Đ1 01 (một) năm t ; thời hạn chấp hành hình phạt t t nh từ ngày bắt b cáo đi thi hành án.

3. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt b cáo Phạm Văn V 01 (một) năm tù cho h ởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao b cáo Phạm Văn V cho Uỷ ban nhân dân xã T1, huy n T2, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

( r ờng h p ng ời

c h ởng án treo th y ổi nơi c trú thì thực hi n theo quy ịnh tại khoản 3 Điều 92 củ Lu t hi hành án Hình sự. rong thời gi n thử thách ng ời

c h ởng án treo cố ý vi phạm nghĩ vụ theo Lu t hi hành án hình sự 02 lần trở lên thì

án có thể quyết ịnh uộc ng ời

c h ởng án treo phải chấp hành hình phạt tù củ ản án ã cho h ởng án treo).

Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm đã có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ